Chào mừng bạn tới với Thế giới chiều không gian thứ 4

Thế giới chiều không gian thứ 4 là một thế giới chiều mới mà khoa học đang muốn khám phá..

Chúng ta có thể tượng tưởng thế giới không gian 2 chiều là thế giới phẳng, thế giới không gian 3 chiều là thế giới chúng ta đang sống và có 1 chiều thế giới khác, đó là chiều thứ 4 mà nhiều người còn gọi đó là chiều thế giới TINH THẦN..

Hãy cùng nhân vật trong truyện thả hồn vào các cuộc khám phá chiều thế giới thứ 4 này nhé..!!!

Showing posts with label Tài liệu tham khảo. Show all posts
Showing posts with label Tài liệu tham khảo. Show all posts

Giải sấm trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm 2023

 Giải sấm trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm 2023 - Lời sấm ký đã hơn năm trăm năm tuổi, bây giờ ta thử giải đoạn sấm như sau:

Canh niên tân phá
Tuất Hợi phục sinh
Nhị Ngũ dư bình
Long vỹ xà đầu khởi chiến tranh
Can qua tứ xứ loạn đao binh
Mã đề dương cước anh hùng tận
Thân Dậu niên lai kiến thái bình



Xin diễn giải như sau:

Trong câu đầu, vào hai năm có thiên can là "Canh" sang "Tân", có sự kết giao với câu thứ tư, "Long vỹ" tức đuôi rồng, có nghĩa là cuối năm Thìn. "Xà đầu" là đầu năm Tỵ. Hai câu nầy cho ta biết về thời gian xãy ra sự kiện là cuối năm Canh Thìn và đầu năm Tân Tỵ (2000 - 2001).

"Tuất Hợi phục sinh" có nghĩa là có một sự tái lập. Theo sự hiểu biết của tôi đó là cuộc chiến tranh Ý - Thổ, đã xãy ra năm Tuất sang năm Hợi (1911). Cuộc chiến nầy là ngòi nổ cho Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất (1914 - 1918). Câu nầy có nghĩa là thế chiến tái sinh, đồng thời nó cho ta biết là sự kiện 11 Tháng 9 cũng ngòi nổ cho một cuộc thế chiến: "Thế Chiến Thứ Ba".

"Nhị Ngũ dư bình": Tôi rất ngạc nhiên khi hai chữ "Nhị Ngũ" đều viết hoa, điều nầy cho ta biết đây là danh từ riêng. "Nhị" là hai, để chỉ "Tòa Nhà Song Lập", "Trung Tâm Thương Mại Thế Giới" hay "World Trade Center". Còn "Ngũ" là năm, là "Lầu Năm Góc", "Ngũ Giác Đài", hay "The Pentagon". "Dư" là địa dư hay bản đồ. "Bình" là bằng hay san bằng. Câu nầy nghĩa là "Trung Tâm Thương Mại Thế giới" và "Ngũ Giác Đài" bị san bằng. Điều nầy cho ta biết không gian xãy ra sự kiện là sự sụp đổ của hai biểu tượng kinh tế và quân sự của nước Mỹ.

"Can qua tứ xứ loạn đao binh": "Can Qua" là mâu và thuẩn hay giáo và khiên, ý nói là sau khi bị tấn công khủng bố, chiến tranh đã xãy ra khắp nơi trên thế giới: Afghanistan, Iraq, rồi Syria... Ngày nào cũng có người chết vì chiến tranh.

"Mã đề dương cước anh hùng tận": "Đề" là móng, "Mã đề" là móng ngựa hay cuối năm Mã (2026)."Cước" là chân, "Dương cước" là cuối năm Mùi (2027) thì có thể - xin dùng từ có thể vì sự việc nầy chưa xãy ra - những cường quốc kinh tế sẽ bị khánh tận hay phá sản. Trong lúc nầy thì đại dịch Covid-19 vẫn đang hoành hành trên toàn thế giới, không biết sẽ còn kéo dài đến bao lâu, mà nếu không dứt sớm thì khánh tận hay phá sản là khó tránh khỏi. Sự sụp đổ nầy sẽ kéo theo cả nền kinh tế thế giới, và cũng có lẽ vì lý do đó ông đã dùng chữ "Anh Hùng Tận".

"Thân Dậu niên lai kiến thái bình": Là đến năm Thân sang năm Dậu (2028 - 2029) mới thấy có thái bình. Thế Chiến Thứ Ba chấm dứt thì chúng ta đã hiểu, không cần nói thêm.

Thông thường, trong sấm của ông, mỗi sự kiện thường chỉ hai câu, nhưng sự kiện 11 Tháng 9, ông dùng đến chừng ấy câu, nên ta biết đây là một sự kiện vô cùng quan trọng. Từ đây, chúng ta đã hiểu rằng, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ tiên tri những điều trong nước Việt của chúng ta mà còn ra cả thế giới nữa. Xưa giờ chúng ta vẫn nghĩ trên thế giới nầy chỉ có hai nhà tiên tri lỗi lạc là Nostradamus và Vanga, nhưng giờ thì thiên tài của ông đã được chứng minh, vinh hạnh thay một người con nước Việt.

Một điều quan trọng hơn nữa cho ta biết định mệnh là có thật. Sự kiện 11 Tháng 9 là một chứng minh. Hơn năm trăm năm sau, lời tiên tri của ông mới thực sự xãy ra. Số phận Trung Tâm Thương Mại Thế Giới, Ngũ Giác Đài, và từng con người có mặt ở Manhatan, New York vào buổi sáng hôm đó, đã được định sẵn. Tất cả mọi thứ trong thế giới nầy, hay những thế giới khác đều phải tuân theo một định luật tự nhiên, đó là LUẬT NHÂN QUẢ (THE LAW OF CAUSE AND EFFECT). Không ai được ở trên và cũng chẳng ai được ở ngoài, không có ngoại lệ. Xa hơn nữa, những gì có trong vũ trụ nầy, người hay vật, từ vật chất thiên tạo - hòn đá hay thân cây, đến những vật chất do con người tạo ra - đền đài, nhà cửa, xe cộ, máy móc... cũng đều có định mệnh riêng của nó.

Sẽ rất sai lầm khi ai đó cho rằng chết là hết. Những người nầy thường rất bàng quan, vô tâm, sống một cuộc sống không định hướng và vô nghĩa, tự gây khổ đau cho bản thân và còn làm phương hại đến người khác. Xin thưa rằng, sự chết chỉ là một sự chuyển đổi theo đúng quy luật vận hành và sự luân hồi của vũ trụ. Tại trái đất, nơi chúng ta đang sống, một năm có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông, thì tất cả những sự sống cũng phải đều tuân theo định luật tự nhiên: Sinh, Lão, Bệnh, Tử. Chết đi là sẽ sống lại một kiếp khác, tốt hay xấu, nghèo hay giàu, khổ đau hay hạnh phúc, đều hoàn toàn tùy thuộc vào kiếp nầy hay những kiếp trước. Đó là sự công bằng tuyệt nhiên của trời đất. Vậy ta hãy sống tốt kiếp nầy, sống tốt với mọi người, để một khi trở lại, ta sẽ có một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Tác giá: Văn Lang

Sự sống chỉ là sản phẩm của toán học?

Có một lập luận được đưa ra về Vũ trụ, theo đó Vũ trụ có vẻ như vận hành trên những đường toán học, giống như từ một chương trình máy tính.
Một số nhà vật lý học nói rằng cuối cùng thì thực tế có lẽ chẳng phải là gì hết ngoài toán học.
Max Tegmark từ Viện Công nghệ Massachusetts lập luận rằng đây chỉ là thứ mà chúng ta nhận được nếu như các định luật vật lý được dựa trên một thuật toán được điện toán hóa.

Tuy nhiên, lập luận đó có vẻ như loanh quanh.
Nếu như các trí tuệ siêu việt đang vận hành các môi trường giả lập của chính thế giới "thực sự" của họ, thì họ có thể phải dựa trên những nguyên tắc vật lý của chính vũ trụ mà họ đang tồn tại, giống như chúng ta phải tuân theo các nguyên tắc vật lý trong vũ trụ của chúng ta vậy.
Trong trường hợp đó, lý do khiến vũ trụ của chúng ta là dạng thế giới hình thành từ toán học sẽ không phải là vì nó được vận hành trên một máy tính, mà bởi thế giới "thực sự" cũng tồn tại như vậy.
Ngược lại, các môi trường giả lập không phải là được dựa trên các nguyên tắc toán học. Chẳng hạn như chúng có thể được dựng lên để hoạt động một cách ngẫu nhiên.
Điều đó dẫn đến những kết quả mạch lạc hay không là điều chưa rõ ràng, nhưng vấn đề ở đây là chúng ta không thể dùng bản chất toán học của Vũ trụ để suy diễn ra bất kỳ điều gì về "thực tế".
Tuy nhiên, dựa trên nghiên cứu riêng của mình về vật lý cơ bản, James Gates từ Đại học Maryland cho rằng có một lý do cụ thể để nghi ngờ rằng các định luật vật lý được định ra bởi một máy tính giả lập.
Gates nghiên cứu vật chất ở mức các hạt hạ nguyên tử như quark, các cấu thành proton và neutron trong hạt nhân nguyên tử.
Ông nói các định luật kiểm soát cách phản ứng của các hạt này hóa ra có các đặc tính giống với các mã code chỉnh sửa lỗi trong máy tính. Vậy có lẽ những định luật này thực sự là các mã code máy tính chăng?
Có thể là vậy.
Mà cũng có thể là cách diễn giải theo đó cho rằng các định luật vật lý này chính là các mã code chỉnh sửa sai sót chỉ là một ví dụ mới nhất về cách thức chúng ta thường áp dụng để diễn giải tính tự nhiên của nền tảng các công nghệ tân tiến của chúng ta.
Đã từng có lúc các hệ thống cơ học theo lý thuyết của Newton dường như khiến cho Vũ trụ có thể được diễn giải là một cỗ máy cơ khí, và trong thuở bình minh của thời đại máy tính, di truyền học được coi là một dạng mã code kỹ thuật số với chức năng lưu trữ và thể hiện. Chúng ta có thể chỉ đơn thuần là đã lo lắng quá mức về các định luật vật lý mà thôi.
Có vẻ như sẽ cực kỳ khó khăn, nếu không nói là không thể, trong việc tìm ra những bằng chứng thuyết phục cho thấy chúng ta đang sống trong một môi trường giả lập.
Lý do là bởi nếu môi trường giả lập mà chúng ta đang tồn tại ở trong là hoàn hảo, không phạm phải lỗi sai sót nào, thì ta khó lòng thực hiện được một thử nghiệm cho kết quả ngược lại.
Nhà vật lý thiên văn từng đoạt giải Nobel George Smoot cho rằng chúng ta có thể sẽ không bao giờ biết được điều đó, đơn giản là bởi tâm trí của chúng ta không sẵn sàng để thực hiện nhiệm vụ đó.
Sau hết, bạn thiết kế ra các mẫu trong một môi trường giả lập nhằm khiến nó hoạt động theo các quy tắc bạn đề ra chứ không phải để lật đổ bạn.
Điều này có thể là giới hạn mà chúng ta không thể nghĩ cách để vượt ra khỏi giới hạn đó được.
Tuy nhiên, có một lý do sâu sắc hơn về việc có lẽ vì sao mà chúng ta không nên lo lắng quá mức về ý nghĩ cho rằng chúng ta chỉ là những đối tượng bị điều khiển bởi một hệ thống máy tính khổng lồ. Bởi đó là điều mà một số nhà vật lý học tin rằng đó chính là cách mà thế giới 'thật' tồn tại.
Bản thân thuyết lượng tử đang ngày càng được diễn giải bằng các thuật ngữ tin học và máy tính. Một số nhà vật lý cảm giác rằng ở mức độ căn bản nhất thì thế giới tự nhiên không phải là thuần túy toán học mà là thuần túy thông tin: các bit, giống như các số 1 và số 0 của máy tính.
Theo quan điểm này, tất cả những gì xảy ra, từ các hoạt động tương tác của các hạt căn bản trở đi, đều là một dạng điện toán hóa.
"Vũ trụ có thể được coi như một máy tính lượng tử khổng lồ," Seth Lloyd từ Viện Công nghệ Massachusetts nói. "Nếu nhìn vào 'phần ruột' của Vũ trụ - tức cấu trúc vật chất ở quy mô nhỏ nhất - thì phần này không có gì ngoài những bit [lượng tử] trong các hoạt động kỹ thuật số cục bộ."
Đây chính là điểm trọng yếu. Nếu thực tế chỉ là thông tin, thì chúng ta không còn là 'thực' bất kể chúng ta có sống trong môi trường giả lập hay không. Bởi dù có thế nào đi chăng nữa thì rốt cuộc chúng ta cũng chỉ là những chuỗi thông tin.
The quantum world is fuzzy and undeterminedBản quyền hình ảnhSCIENCE PHOTO LIBRARY
Tiếp nữa, có gì khác nhau không giữa việc các thông tin được lập trình bởi thế giới tự nhiên hay bởi các đấng tạo hóa có trí tuệ siêu việt? Cũng thế thôi, chẳng có gì quan trọng nếu có sự khác biệt - ngoại trừ việc nếu không phải là chúng ta được thế giới tự nhiên sinh ra thì các đấng tạo hóa về mặt lý thuyết có thể can thiệp được vào môi trường giả định mà chúng ta đang tồn tại, thậm chí có thể 'tắt' nó đi. Chúng ta sẽ có cảm giác thế nào về chuyện đó?

'Hãy sống tốt'

Tegmark, nhà vũ trụ học vô cùng quan tâm tới khả năng này, cho rằng chúng ta tốt hơn cả là hãy bước ra và làm những điều thú vị với cuộc sống của mình, để đề phòng khả năng các đấng tạo hóa nhìn vào và thấy chán về những điều buồn tẻ mà chúng ta làm.
Sau hết, rõ ràng là có những lý do để người ta muốn có cuộc sống thú vị hơn thay vì bị xóa sổ. Nhưng nó lại vô tình phản bội một số vấn đề của nguyên lý tổng thể.
Ý tưởng cho rằng các đấng tạo hóa siêu nhiên nói rằng "À kìa, thứ này hoạt động dở quá - thôi thì cho nó nghỉ luôn rồi làm cái mới" là câu đùa khôi hài trong thuyết hình người. Giống như bình luận của Kurzweil về một dự án học đường, chuyện hài này tưởng tượng ra các 'đấng tạo hóa' của chúng ta là những bạn trẻ tuổi teen bồng bột với các bộ Xbox trong tay.
Việc thảo luận về ba khả năng mà Bostrom nêu ra liên quan tới thứ tương tự như thuyết duy ngã. Đó là một nỗ lực nhằm nói một cách sâu sắc về Vũ trụ bằng cách ngoại suy từ những gì mà nhân loại trong thế kỷ 21 đã biết.
Lập luận được đưa ra là: "Chúng ta làm ra các trò chơi điện toán. Hẳn là các sức mạnh siêu nhiên cũng làm được, chỉ có điều họ làm ở mức tuyệt hảo."
Trong nỗ lực tưởng tượng ra xem các trí tuệ siêu việt có thể làm gì, hay thậm chí các trí tuệ đó gồm những gì, chúng ta không có mấy lựa chọn ngoài việc phải bắt đầu từ chính chúng ta.
Rõ ràng là không có chuyện tình cờ khi nhiều người ủng hộ ý tưởng về ''vũ trụ giả lập" thừa nhận rằng họ khi còn trẻ là các fan cuồng nhiệt của khoa học viễn tưởng. Điều này tạo cảm hứng khiến họ bay bổng trí tưởng tượng để nhìn vũ trụ từ khung cửa sổ của tàu không gian trong phim viễn tưởng.
Elon Musk hầu như chắc chắn không tự nhủ với bản thân rằng những người mà ông nhìn thấy xung quanh, gồm cả bạn bè và gia đình ông, chỉ là do máy tính tạo nên bằng những dòng dữ liệu được nhập vào hệ thống.
Ông không làm vậy một phần bởi chuyện lưu giữ ý tưởng đó trong đầy một thời gian dài là điều không thể.
Quan trọng hơn nữa, chúng ta đều hiểu một cách sâu sắc rằng ý niệm về thực tế chỉ thực sự có giá trị khi đó là thực tế mà mà ta trải qua chứ không phải là thứ thế giới nào đó 'đứng đằng sau'.
Tuy vậy, không có gì mới mẻ trong việc hỏi cái gì 'đứng đằng sau' vẻ bề ngoài và những cảm xúc mà chúng ta trải nghiệm. Các nhà triết học đã làm vậy trong hàng thế kỷ rồi.
Plato tự hỏi sẽ ra sao nếu thực tế mà chúng ta nhận được lại giống như bóng đen đổ lên những bức vách trong hang. Immanuel Kant khẳng định rằng trong lúc có thể có một số 'thứ ở bên trong chính nó' nằm dưới vẻ ngoài mà chúng ta nhìn thấy, nhưng chúng ta không bao giờ biết được thứ đó. René Descartes chấp nhận rằng 'Tôi nghĩ, cho nên tôi tồn tại', rằng khả năng suy nghĩ chính là tiêu chuẩn duy nhất để xác định việc chúng ta tồn tại.
Nhưng cho tới khi ta có thể chứng minh được rằng nêu ra được những khác biệt giữa những điều chúng ta trải nghiệm và những điều 'thực tế' dẫn đến sự khác biệt có thể thể hiện ra trong điều mà chúng ta có thể quan sát hoặc làm được, thì nó không làm thay đổi quan niệm của chúng ta về thực tế theo cách thức có ý nghĩa.

Chúng ta có bị thế lực nào điều khiển không?

Trong bài Chúng ta sống thật hay sống ảo?, chúng ta đã đề cập tới các cách nhìn nhận vũ trụ quanh ta và bản thân con người chúng nữa.
Có một số nhà vật lý, thiên văn học và kỹ sư công nghệ nay đang hào hứng với ý tưởng cho rằng chúng ta thực ra đang sống trong một cỗ máy giả lập khổng lồ, kiểu như thế giới ảo trong phim Ma trận (Matrix), nhưng mọi người đều ngỡ đó là đời thực.
Họ đưa ra ít nhất là hai giả thiết để thuyết phục mọi người tin rằng vũ trụ quanh ta không phải là thật.

Giả thiết thứ nhất cho rằng chúng ta là một dạng thử nghiệm, còn giả thiết thứ hai cho rằng chúng ta tồn tại theo sự sai khiến của một thế lực siêu nhiên nào đó.
Trong lúc giả thiết thứ nhất dường như không làm thay đổi điều gì, thì giả thiết thứ hai lại đặt ra nhiều câu hỏi, tình huống thú vị.
Với giả thiết thứ hai, thì cũng sẽ hợp lý nếu như có bất kỳ chủ thể biết suy nghĩ nào cho rằng thực ra chúng ta đang sống trong một môi trường giả lập chứ không phải là trong một thế giới mà các thực tế ảo đang hoạt động theo sự điều khiển nào đó.
Nhà triết học Nick Bostrom từ Đại học Oxford, Anh Quốc, đã phân giả thiết thứ hai ra thành ba khả năng:
(1) các nền văn minh chưa bao giờ đạt tới độ có thể tạo ra được những môi trường giả lập, có lẽ bởi điều đó sẽ khiến chính các nền văn minh đó bị xóa sổ đầu tiên; hoặc
(2) các nền văn minh đã đạt tới mức đó, nhưng vì một số lý do đã quyết định không tạo ra các môi trường giả lập; hoặc
(3) chúng ta nhiều khả năng chính là sản phẩm được tạo ra.
Câu hỏi đặt ra ở đây là trong những khả năng trên, cái nào dễ xảy ra nhất?
Nhà vật lý thiên văn từng đoạt giải Nobel George Smoot lập luận rằng không có lý do thuyết phục nào để chấp nhận phương án (1) hoặc (2).
Nhân loại đang tự gây cho mình đủ những vấn đề rắc rối, như chuyện thay đổi khí hậu, vũ khí hạt nhân và nguy cơ tuyệt chủng hàng loạt đối với một số giống loài. Nhưng những điều đó không nhất thiết sẽ đẩy nhân loại vào chỗ tuyệt diệt.
Hơn nữa, việc tạo ra những môi trường giả lập chi tiết, hoàn hảo tới mức các chủ thể sống trong đó ngỡ rằng mình đang tồn tại thực sự không phải là điều không thể, nếu xét về mặt lý thuyết.
Smoot nói thêm rằng theo những kiến thức phổ quát mà chúng ta đã biết về các hành tinh khác thì sẽ là quá kiêu căng nếu cho rằng chúng ta là giống loài thông minh nhất tồn tại trong toàn Vũ trụ.
Thế tình huống (2) thì sao? Phải chăng chúng ta muốn tránh việc tạo ra những môi trường giả lập vì lý do đạo đức? Có lẽ sẽ là điều không nên nếu ta tạo ra những chủ thể giả lập mang niềm tin rằng họ tồn tại thực sự và có quyền tự trị?
Nhưng điều này khó lòng xảy ra, Smoot nói. Rốt cuộc thì một lý do then chốt khiến chúng ta tạo ra những thứ giả lập ngày nay chính là để tìm hiểu rõ hơn về thế giới thực. Điều đó giúp chúng ta xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn, gìn giữ cuộc sống tốt hơn. Do đó, có những lý do đạo đức mạnh mẽ để tạo ra môi trường giả lập.
Và như vậy thì chỉ còn là duy nhất tình huống (3): có lẽ chính chúng ta đang sống trong một môi trường giả lập.
Nhưng điều này hoàn toàn chỉ là giả thuyết. Ta có thể tìm được bất kỳ bằng chứng nào để chứng minh điều đó không?
Nhiều nhà nghiên cứu tin rằng điều đó tùy thuộc vào việc độ bắt chước được thực hiện hoàn hảo tới mức nào. Cách tốt nhất để tìm kiếm những lỗ hổng của chương trình này, chẳng hạn như những lỗi sơ suất khiến làm lộ ra bản chất nhân tạo của "thế giới thực" trong phim Ma trận. Chẳng hạn như chúng ta đã phát hiện ra sự không phù hợp lẫn nhau trong các học thuyết vật lý.
Khoa học gia chuyên nghiên cứu trí tuệ nhân tạo (nay đã qua đời) Marvin Minsky từng cho rằng có những lỗi sai sót xảy ra do việc 'làm tròn' các con số xấp xỉ trong các chương trình máy tính.
Một số khoa học gia lập luận rằng có những lý do thích đáng để cho rằng chúng ta đang sống trong một môi trường giả lập. Một trong những lý do đó là Vũ trụ của chúng ta trông như được thiết kế có chủ đích.
Những tính bất biến của tự nhiên, chẳng hạn như cường độ các lực căn bản, thì có những giá trị giống như được chọn lựa, tính toán để sự sống có thể tồn tại được.
Ngay cả những thay đổi nhỏ nhất, nếu xảy ra, cũng sẽ khiến cho các nguyên tử không còn ổn định nữa, hoặc sẽ khiến cho các vì sao không thể được tạo thành. Câu hỏi 'tại sao' vẫn là những bí ẩn sâu kín nhất của ngành vũ trụ học.
Có thể có tình trạng dư thừa các vũ trụ, mà tất cả đều được tạo thành trong những sự kiện giống như Vụ Nổ Lớn, và tất cả đề có những định luật vật lý khác nhau.
Có thể do tình cờ mà một số vũ trụ trong đó được "tinh chỉnh" để thích nghi với sự tồn tại của sự sống, và nếu như chúng ta không phải là nằm trong một vũ trụ có khả năng duy trì sự sống đó, thì chúng ta đã không đặt câu hỏi về sự 'tinh chỉnh' bởi lẽ khi đó chúng ta đã không tồn tại.
Tuy nhiên, các vũ trụ song song lại là một ý tưởng khá là mang tính suy đoán. Ít nhất ta có thể suy đoán rằng Vũ trụ của chúng ta là một vũ trụ giả lập với các thông số đã được tinh chỉnh để tạo ra những kết quả thú vị như các vì sao, các dải ngân hà và con người.
Trong khi đây là điều có thể xảy ra, thì lý do khiến điều đó xảy ra vẫn là thứ mà chúng ta chưa hiểu được.
Bởi xét cho cùng, nếu vậy thì Vũ trụ "thực sự" của những đấng tạo hóa ra chúng ta cũng phải được "tinh chỉnh" để các đấng tạo hóa đó có thể tồn tại được.
Mà trong trường hợp đó, việc thừa nhận rằng chúng ta đang sống trong một môi trường giả lập vẫn không giải thích được sự bí ẩn về độ "tinh chỉnh" của vũ trụ chúng ta.
Một số người đã chỉ ra những kết quả mâu thuẫn, kỳ quặc trong ngành vật lý hiện đại, và đó là những bằng chứng cho thấy có cái gì đó không ổn.
Cơ học lượng tử, một lý thuyết vật lý cơ học căn bản, đã nêu ra nhiều điểm mâu thuẫn. Chẳng hạn như cả vật chất và năng lượng có vẻ như đều là dạng hạt. Hơn nữa, có những giới hạn đối với với việc chúng ta quan sát Vũ trụ.
Smoot nói rằng những đặc tính rắc rối của vật lý lượng tử chỉ là thứ mà chúng ta có thể nhận thấy trong một môi trường giả lập. Chúng giống như những điểm chấm trên màn hình khi ta nhìn quá sát.
Liệu có lý thể giải được sự tồn tại của Vũ trụ của chúng ta bằng các định luật, nguyên lý khoa học không?
Mời quý vị đón xem phần tiếp theo

Chúng ta sống thật hay sống ảo?

Bạn có phải là người thật không? Còn tôi thì sao?
Câu hỏi này từng là mối trăn trở quan tâm của các nhà triết học, từ cái thời mà giới khoa học gia chỉ muốn tìm hiểu xem thế giới xung quanh là gì, và tại sao.
Thế nhưng ngày nay, một số nhà vật lý, thiên văn học và kỹ sư công nghệ nay đang hào hứng với ý tưởng cho rằng chúng ta thực ra đang sống trong một cỗ máy giả lập khổng lồ, kiểu như thế giới ảo trong phim Ma trận (Matrix), nhưng mọi người đều ngỡ đó là đời thực.


Nhưng mà mọi thứ đều quá thật chứ không phải là như trong một môi trường giả định. Sức nặng của chiếc tách tôi cầm trong tay, hương vị cà phê tỏa ra từ đó, rồi những âm thanh xung quanh - làm sao những thứ như thế lại có thể là giả được?
Tuy nhiên, hãy nhìn vào những bước tiến nhanh chóng trong ngành máy tính và công nghệ thông tin trong vài thập niên vừa qua.
Máy tính đem đến cho chúng ta những trò chơi thực tế đến kỳ lạ - chẳng hạn như các nhân vật tự động có phản ứng thích hợp trước các lựa chọn của chúng ta. Điều đó hẳn đã đủ để khiến bạn cảm thấy ít nhiều hoang mang.
Trong Ma trận, con người bị kẹt trong một quyền lực hiểm ác, bị mắc kẹt trong thế giới ảo mà họ chấp nhận là 'thực tế' mà không một lời thắc mắc.
Cơn ác mộng khoa học về việc bị mắc kẹt trong một thế giới do chính trí não của chúng ta tạo ra là điều đã có từ thời trước, ví dụ như trong phim Videodrome của David Cronenberg (1983), và Brazil của Terry Gilliam (1985).
Với những viễn cảnh đáng sợ này, chúng ta nảy sinh ra hai câu hỏi. Làm thế nào để chúng ta biết chuyện đó? Nếu quả thực có thì liệu đó có phải là vấn đề đáng lo ngại không?
Ý tưởng cho rằng chúng ta đang sống trong một thế giới giả lập được một số nhân vật có tiếng tán thưởng.
Hồi tháng 6/2016, doanh nhân công nghệ Elon Musk khẳng định với tỷ lệ "một tỷ ăn một" cho ý tưởng phản bác việc chúng ta đang sống trong "thực tế gốc".
Tương tự, chuyên gia hàng đầu về máy móc thông minh tại Google, Ray Kurzweil nói rằng "có thể toàn bộ vũ trụ của chúng ta là một thử nghiệm khoa học của một số sinh viên trung học tại một vũ trụ khác".
Chưa hết, một số nhà vật lý học sẵn sàng tìm hiểu về khả năng này.
Hồi 4/2016, một số người đã tranh luận tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Mỹ tại New York.
Không ai trong những người này đề cập tới chuyện phải chăng chúng ta đang bị giam giữ về mặt thể chất trong một số môi trường nào đó, và bị 'tẩy não' để tin vào thế giới quanh mình, tương tự như trong Ma trận.
Thay vào đó, họ đưa ra ít nhất là hai giả thiết để thuyết phục mọi người tin rằng vũ trụ quanh ta không phải là thật.

'Chúng ta tồn tại dưới một dạng thử nghiệm'

Trong giả thiết thứ nhất, nhà thiên văn học Alan Guth từ Viện Công nghệ Massachusetts, Hoa Kỳ, cho rằng toàn bộ vũ trụ của chúng ta là thật, chỉ có điều nó vẫn đang mới chỉ là một dạng thử nghiệm, và rằng nó được tạo ra bởi một trí tuệ siêu phàm, những đối tượng 'nuôi' chúng ta như các nhà sinh học nuôi dưỡng những ổ vi sinh vật.
Về nguyên tắc, không gì bác bỏ được lập luận theo đó cho rằng vũ trụ hình thành từ một Vụ Nổ Lớn nhân tạo với đầy các vật chất và năng lượng, Guth nói.
Thế lực siêu trí tuệ đó cũng không phá hủy được thứ vũ trụ đã hình thành ra nó. Vũ trụ mới sẽ tạo ra khối bong bóng không gian-thời gian riêng của mình, tách khỏi thứ mà nó đã được ấp ủ. Khối bong bóng này sẽ nhanh chóng tách khỏi, rồi mất liên lạc với vũ trụ mẹ.
Tuy nhiên, giả thiết này thật ra không làm thay đổi điều gì. Vũ trụ của chúng ta có thể được ra đời trong một thứ gì đó, giống như một vụ nổ được thực hiện trong ống nghiệm, nhưng nó cũng 'thật' về mặt vật lý như thể nó được ra đời một cách 'tự nhiên', bằng một vụ nổ tự nhiên.

'Chúng ta tồn tại theo sự sai khiến'

Tuy nhiên, giả thiết thứ hai thu hút mọi sự chú ý bởi nó có vẻ như khiến mọi lập luận của chúng ta về thực tế trở nên yếu ớt.
Musk và những người có ý nghĩ khác thường như ông cho rằng chúng ta hoàn toàn chỉ là những sinh vật tồn tại theo sự sai khiến.
Chúng ta có lẽ chẳng là gì ngoài là những chuỗi thông tin bị một số máy tính khổng lồ kiểm soát, giống như các nhân vật trong trò chơi điện tử vậy.
Ngay cả não bộ của chúng ta cũng bị điều khiển và đưa ra phản xạ tương ứng với sự điều khiển đó.
Theo quan điểm này, chẳng hề có Ma trận nào ta có thể thoát ra nổi. Đây là nơi chúng ta sống, và là cơ hội duy nhất để chúng ta "sống" được.
Nhưng làm thế nào mà điều này lại có thể tồn tại trong thực tế được?
Lập luận ở đây được đưa ra khá đơn giản: nếu như chúng ta đã tạo ra được các chủ thể giả lập, có khả năng bắt chước, thì với sự tiến bộ của khoa học công nghệ, hẳn sẽ có một đối tượng tối ưu nào đó được tạo ra và có khả năng biết suy nghĩ, ứng phó với những gì xảy ra trong cuộc sống thật.
Chúng ta thực hiện các hoạt động giả lập không chỉ trong các trò chơi mà còn cả trong quá trình nghiên cứu. Các khoa học gia cố kích thích các khía cạnh khác nhau của thế giới ở các mức độ từ hạ nguyên tử (subatomic) cho tới toàn bộ các xã hội, hay các dải ngân hà, thậm chí là cả toàn bộ vũ trụ.

Ví dụ như các hành vi giả lập trên máy tính được thực hiện với động vật có thể cho ta biết các con vật phát triển các ứng xử phức tạp ra sao, chẳng hạn như chúng sẽ túm tụm lại thành nhóm đông, hay đi theo bầy đàn. Các kiểu giả lập bắt chước khác giúp chúng ta hiểu được sự hình thành của các hành tinh, các vì sao và các dải ngân hà.

Chúng ta cũng có thể giả lập các xã hội loài người bằng việc dùng những chủ thể đơn giản đưa ra các lựa chọn tương ứng với những quy tắc nhất định.
Những điều này cho chúng ta cái nhìn sâu sắc về cách thức hợp tác, về cách các thành phố tiến hóa phát triển, về chuyện giao thông đường bộ và các nền kinh tế vận hành ra sao, và về nhiều thứ khác nữa.
Những hình thức giả lập này đang ngày càng trở nên phức tạp hơn, khi mà sức mạnh của máy tính ngày càng to lớn.
Các nhà nghiên cứu nhìn nhận rằng sẽ không còn lâu nữa thì việc ra quyết định của các chủ thể này sẽ không còn dựa trên nguyên tắc đơn giản "nếu... thì..." nữa.
Thay vào đó, họ sẽ đưa ra cho các chủ thể những mô hình não bộ được đơn giản hóa để xem chúng sẽ phản ứng ra sao.
Ai có thể nghĩ được tới chuyện đó khi mà chỉ trước đây chưa lâu chúng ta còn chưa thể tạo ra được người ảo trên máy tính?
Những tiến bộ trong việc hiểu được và xác định được chức năng hoạt động của từng mảng trong bộ não cũng như những nguồn thông tin khổng lồ mà máy tính xử lý được khiến điều này ngày càng trở nên khả thi hơn.
Tới khi chúng ta đạt được tới mức đó, thì chúng ta sẽ vận hành được những số lượng khổng lồ các chủ thể có khả năng bắt chước y hệt, và số lượng đó đông áp đảo so với thế giới "thật" quanh ta.
Nhưng nếu quả thật như vậy thì liệu có phải là đã có những trí thông minh ở đâu đó trong Vũ trụ đạt tới mức độ phát triển này rồi?
Vậy thật ra thế giới của chúng ta là gì, Vũ trụ nơi Trái Đất của chúng ta đang tồn tại là gì?
Mời quý vị đón xem phần tiếp theo,

Ngọa thiền

Ngọa thiền - Thiền Nằm hay Thở Nằm Xả Trược của Bồ Tát Quán Thế Âm.

Nghiêm chỉnh thực hành thì tốn lối 8 tới 10 phút cho mỗi lần tập, nhưng thường thì ngủ quên hoài. Lưu ý là người chưa khai mở huyệt Bách Hội ở trên đầu thì chỉ tập pháp nầy cho đến khi nếu bộ đầu bị đau nhức thường xuyên thì bỏ. Nghỉ một thời gian cho hết đau rồi lại tập tiếp. Nếu có một phương pháp nào tập kèm theo để khai mở Thiên Môn, hoặc giả có duyên nhờ được ai khai dùm cho, hoặc huyệt Bá Hội trên đầu đã lõm xuống, thì nên tập pháp nầy còn không thì ráng chịu đau đầu một chút. Khi bỏ thôi tập thì hết đau. Khi bộ đầu khai mở được rồi thì hết đau luôn. Ai cũng chịu khó khăn nầy, không kiếp nầy thì kiếp trước đây, dở rồi hóa hay. Chẳng ai sinh ra là thành Tiên hóa Phật liền đâu.

          a)- Công dụng: Hóa giải điển trược và điển bịnh, cũng như Tà khí, độc khí trong bản thể (cho người có bịnh Tà). Thứ hai là điều hòa Tâm-thần, điều hòa nhiệt lượng nóng quá hay lạnh quá. Thứ ba là trị các bịnh bướu ngoại hay ung-thư nhẹ. Thứ tư là giải bịnh táo bón, cho tiêu hóa nhuận trường. Thứ năm là giải bịnh mất ngủ, khó ngủ. Thứ sáu người lớn làm được rồi thì chỉ cho trẻ con khi bị cảm, ấm đầu sổ mũi do thay đổi thời tiết. Nên uống một ly nước ấm rồi trùm mền lại kín mà tập nhiều vòng cho tới khi xuất được mồ hôi ra thì giải cảm. Mỗi ngày nếu chịu khó nhắc cho chúng tập vào trước mỗi bữa cơm, trước khi đi ngủ, khi mới thức dậy một thời gian thì chống được bịnh tật do thời tiết và người chung quanh lây sang, mới giữ hạnh phúc gia đình vững.

          b) Kỹ Thuật Thở Nằm: uống một ly nước ấm trước khi tập nếu là mùa Đông còn Hè thì nước mát, đắp mền kín được thì càng tốt. Nằm duỗi tay chơn theo chiều dọc thân người cho thoải mái. Mắt nhắm lại, miệng ngậm lại bình thường, chỉ có đầu lưỡi co lên chân hàm răng trên. Hai tay thì bắt ấn Hỏa. Đây là phương pháp thở bụng nằm. Lúc đầu tiên phải duỗi chơn tay thẳng ra tập. Cho tới khi cảm thấy điện chạy xuống tỏa ra ở lòng bàn chơn được rồi mới bắt đầu co hai chơn dựng đầu gối lên như hình vẽ dưới đây để đem máu về bảo vệ hai cái thận.



          c)-  Cách đếm hơi thở: Hít hơi vô phình bụng, thở hơi ra xệp bụng, không cho ngực rung động. Hít vô thở ra xong đếm 1, hít vô thở ra đếm 2, đếm cho tới 12 nghỉ ở đây lối 5 hay 10 giây. Trong lúc  nghỉ nầy giữ nguyên tư thế lúc đầu, tay vẫn bắt Ấn. Rồi tiếp tục hít vô thở ra đếm 1, hít vô thở ra đếm 2, đếm cho tới 11 lại nghỉ như vừa rồi. Bây giờ lại hít thở trở lại đếm tới 10 thì nghỉ, rồi đếm tới 9 nghỉ, 8 nghỉ, 7 nghỉ, và nghỉ xuống mãi  tới 6, 5, 4, 3, 2, 1 là xong một lần tập. Còn thì giờ thì tập thêm nữa. Hơi thở phải nhẹ nhàng, không cố hít vô nhiều quá.


       
           
        d)- Trạng thái xảy ra trong lúc tập:

          Ai đã bị Thiêng Liêng vô ra phiền toái (có nơi gọi là Ma nhập hay Điển nhập, có người dựa hay thần kinh giả) mà muốn Tu thì phải cương quyết tập cho bằng được Pháp Thở nằm nầy thì mới mong họ để yên cho mà Tu Hành. Nếu ai ở trong hoàn cảnh nầy thì phải cương quyết lắm mới làm chủ lại được bản thể. Khuyên họ ra ngoài rồi cùng tu chứ không đuổi họ, nhớ phải độ cho họ mới xong. Hiện nhiều Pháp Tu khác cũng mượn Pháp nầy để thanh lọc bản thể trước khi Thiền. Tập đúng thì sẽ cảm thấy:
          - Toàn thân chỗ nào cũng có thể xảy ra ngứa ngáy, hãy cố gắng trân người chịu đựng một thời gian sẽ quen vì đó là trược điển xuất ra, gãi sẽ làm chận đứng sự phóng trược, không nên gãi.
          - Hình như có con gì bò bò trong người hay ngoài da, đó là Điển, nhân điện bắt đầu chạy, lúc đầu hơi khó chịu nhưng rồi quen dần.
          - Có thể cảm giác như toàn thân nâng bổng lên khỏi nơi mình nằm cũng đừng sợ, đây là trạng thái điển trược của thể xác xuất ra, cứ niệm Phật hay Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát, hoặc cũng có thể niệm Chúa và Đức Mẹ để trấn an và tiếp tục làm công việc của mình cho tới khi xong.

          e)- Cách bảo vệ cho hành giả:

  Những cảm giác, những trạng thái làm bực mình trong thời gian công phu pháp nầy thì hãy niệm: “Nam Mô cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bố Tát” nhiều lần, một lát sau thì trong tâm được an ổn trở lại ngay mặc dù trạng thái đau nhức, khó chịu kia chưa biến mất. Cứ tiếp tục niệm như vậy rồi trong tâm mình sẽ xảy ra ý tưởng mới để biết sửa chữa như thế nào cho những sự khó chịu kia dang ra xa. Tuy nhiên bất cứ một phương pháp tập luyện nào của nhà Phật cũng đều lấy tịnh thắng động, và kiên trì ý chí tu học với một hạnh nguyện đem lợi lộc cho tha nhơn dù kẻ âm hay người dương, nếu mình thành công trong tương-lai.

Tại đây, kính chúc an lành để tập luyện từ 3, 6 tháng tới một năm sau hay lâu hơn nữa mới tiến lên việc kỹ thuật ngồi Thiền. Thời gian dài ngắn nầy là tùy nơi hành giả thanh lọc thân xác xong sớm hay muộn đó thôi.

Đừng nên dục tốc bất đạt. Chỉ cần cái Tâm muốn cãi sửa thì dù có ra đi bất thình lình thì trò bảo đảm là hưởng được ân huệ “Sống gởi thác về thiên giới” rồi chứ không phải lạc vào 4 đường ác đâu mà sợ. Tuy nhiên nếu hấp tấp luyện tập do cái Tâm Tham vọng động, vọng tưởng sớm thành tiên thành Phật này nọ kèm theo thì Mô Phật! Bà con chung quanh quý vị dẫn dắt quý vị theo họ chứ trò hoàn toàn không trách nhiệm. Thời đại ngày nay là Ma cường Pháp nhược, người hiền hay gặp nạn là vậy. Là do cái Tâm mình móng lên, dấy lên thì có người tới lo ngay, giúp ngay. Nhớ rằng: Cầu thì lụy, Cầu thì kỳ, kỳ cục đó.

Chiều không gian thứ 4 (không gian của linh hồn)​

Chiều không gian thứ 4 (không gian của linh hồn)​ “Việc nghiên cứu về chiều đo thứ tư dường như đưa thẳng ta tới Thần Bí Học”, cho nên thật khó có hi vọng con người với nền khoa học hiện tại, mà tìm kiếm được đường vào không gian thứ 4. Chỉ có “vứt bỏ bản ngã”, “đặt căn cứ và bắt rễ nơi tình thương, có thể cùng với chư thánh hiểu được thế nào là chiều rộng, chiều dài, chiều sâu và chiều cao”



Hàng ngày, tôi và bạn cùng nhìn ngắm ánh sáng mặt trời ló dạng từ đằng đông, những tia nắng vàng đỏ xuyên qua từng tầng mây, sưởi ấm và lo toan cuộc sống của muôn loài. Ai mà không yêu dòng sông nước trong xanh thong thả rong chơi, nâng niu từng đàn tôm cá vào lòng, cất tiếng hát ầu ơ, dưỡng dục thành hình. Bên kia bờ, dăm ba chòm cây phơi mình trong nắng sớm, sau buổi tắm sương với vòi sen của đất trời.

Vậy là, điều tồn tại xung quanh ta, trước mắt ta, được khoa học gọi là không gian ba chiều. Nhưng, liệu ngoài những thứ ta đụng chạm, ta nâng niu hàng ngày kia ra, còn có chiều không gian thứ tư, hay thứ năm nào nữa hay không? Vì sao, trong giấc mơ, đôi khi tôi lại thấy mình đi lạc vào nơi không thấy tồn tại trên cõi trần này. Đấy là, tôi hả hê trong ngôi nhà dát vàng óng ánh, hay bay lơ lững trong không gian với cảm giác sung sướng thanh thảng tột cùng. Và khi tỉnh giấc rồi, tôi mường tượng mình vừa trải nghiệm qua một điều gì, chứ chẳng phải mơ. Có phải chăng, với tôi thực và mơ đã trộn lẫn vào nhau rồi?

Nhưng lạ lùng thay, những cuộc lên đồng, gọi hồn người chết, tìm mộ liệt sĩ, xãy ra rầm rộ ở đất nước ta trong thời gian vừa qua, lại không phải là một cơn mê sảng. Thực tại hiện hình kia, vội vã gây nhiều tranh cãi ở khắp nơi. Những lý lẽ bác bỏ cho rằng, thầy đồng giở trò bịp đằng sau tấm màn huyền bí; hay đấy là cơn điên loạn của trào mê tín dị đoan còn tồn tại từ thời con người “ăn lông ở lổ”. Nhưng vậy ai đủ khả năng bác bỏ sự tồn tại linh hồn người sau khi chết, khi mà niềm tin đó đã tồn tại từ lâu lắm với những người theo duy linh thuyết, hay Phật giáo.


Linh hồn tồn tại. Nhưng họ sống ở đâu, thiên đàng hay địa ngục. Thiên đàng, phải chăng được xây dựng trong những tầng mây màu sắc, trên bầu trời thăm thẳm kia? Hay là vương ra tận ngoài không gian vũ trụ xa tít, trên một hành tinh trôi nổi bồng bền trong Thái dương hệ mông mênh, mà chẳng có họng kính viễn vọng tối tân nào có một giây cơ hội nhìn thấy nó. Và địa ngục, liệu có phải cư ngụ dưới lòng đất ngầm sâu thẳm tối tăm, có khi, vào tận bên trong lõi địa cầu đang sôi sùng sục, nơi chưa một mũi khoan nào của con người xuyên tới được. Hay là nó ở Becmuda, cánh cửa vào âm ti, vùng cấm địa đã nuốt chửng rất nhiều thuyền bè, phi cơ, của con người trên thế giới.

Như vậy, thực sự tồn tại một chiều không gian khác ngoài những chiều không gian hiện tại. Giới khoa học đang xét lại, và cũng bắt đầu nghiên cứu và tiến đến nhìn nhận điều này.

Bà Lisa Randall trong quá trình thí nghiệm về hạt cơ bản, bất ngờ phát hiện thấy có những hạt bổng dưng hô biến. Bà liền đưa giả thuyết: “Tôi cho rằng trên Trái đất có tồn tại không gian chiều thứ 5. Nếu giả thiết này là đúng thì thực ra các không gian khác không ở xa chúng ta, thậm chí có thể nói chúng ở cách ta trong gang tấc. Chỉ có điều chúng ẩn giấu rất khéo cho nên ta không nhìn thấy mà thôi.”

Các thuyết lý thuyết vật lý hiện đại, như thuyết String, cho rằng. Ở các khoảng không gian cực hẹp (cấp độ nanomét), không gian sẽ bị “cuộn” lại trong các chiều khác (có thể là chiều thứ 4, thứ 5 hoặc nhiều hơn). Điều này sẽ làm thay đổi lực hấp dẫn giữa các vật thể trong không gian đó. Vì thế, nếu người ta xây dựng được một thí nghiệm để chỉ ra sự thay đổi này của lực hấp dẫn, thì người ta có thể kết luận rằng, có chiều không gian thứ 4.

Tại Đại học Duke và Rutgers, các nhà khoa học cùng hợp sức phát triển một mô hình toán học, mà họ cho rằng sẽ giúp các nhà thiên văn học thử nghiệm định luật hấp dẫn trong không gian 5 chiều đo, để đối chiếu với Thuyết tương đối tổng quát của của Anh-xtanh. Lý thuyết này cho rằng, vũ trụ hiện tại là một màng (braneworld) nằm trong một vũ trụ lớn hơn, giống như một sợi tảo mỏng nổi trên đại dương. Vũ trụ màng có 5 chiều: 4 chiều không gian, 1 chiều thời gian; so với 3 chiều không gian, 1 chiều thời gian của Thuyết tương đối tổng quát. Họ còn nói, “nó sẽ làm đảo lộn các lý thuyết hiện tại. Nó sẽ xác nhận rằng còn có một chiều thứ 4 của không gian, và nó sẽ tạo ra một sự thay đổi về triết học trong hiểu biết của chúng ta về thế giới tự nhiên”.

Hội Thông Thiên Học thông qua việc tập hợp các tài liệu tôn giáo cổ xưa và thực hành khoa yoga, đã cho rằng, trong không gian tồn tại ít nhất 7 chiều đo. Cõi Trung giới có 4 chiều đo, cõi Trí tuệ có 5 chiều đo và cõi Bồ đề có 6 chiều đo. Mỗi cõi này được cấu tạo bằng những vật chất khác nhau, cho nên, người ở cõi dưới không thể thấy được vật chất ở các cõi cao hơn.

Các chiều đo này tồn tại cùng một nơi, nghĩa là có 7 chiều đo ở trong một không gian. Sự khác nhau “là do tầm nhận thức hạn hẹp” của con người với sự vật, và “thời gian thực ra không phải là chiều đo thứ tư” như Thuyết tương đối tổng quát trình bày.

“Việc nghiên cứu về chiều đo thứ tư dường như đưa thẳng ta tới Thần Bí Học”, cho nên thật khó có hi vọng con người với nền khoa học hiện tại, mà tìm kiếm được đường vào không gian thứ 4. Chỉ có “vứt bỏ bản ngã”, “đặt căn cứ và bắt rễ nơi tình thương, có thể cùng với chư thánh hiểu được thế nào là chiều rộng, chiều dài, chiều sâu và chiều cao”.

Nói theo Duy linh thuyết của nhân gian, cõi âm, tức là chiều không gian thứ 4 mà khoa học đang tìm kiếm. Cõi này Thông Thiên Học gọi là Trung giới. Và con người chúng ta, dầu còn sống hay đã chết, đều đã bước đi trên đó ít nhiều. Người chết chuyển hẳn sang cõi đó, và người sống thì phiêu bồng bên ấy trong giấc ngủ – mà ta thường gọi là mộng mị hay giấc mơ.

ĐỖ BẤT NHỊ

Diễn Đàn Nhân Điện và Tâm Linh

Những bí ẩn về chiều không gian thứ 4

Trên thế giới, đã có khá nhiều người kể lại, họ đã được nhìn thấy đĩa bay, đã gặp gỡ với người hành tinh khác, cũng có trường hợp một số người bị mất tích một cách bí ẩn và được gán cho là đã bị người hành tinh khác bắt cóc. Cũng không ít người cho rằng họ đã “linh cảm” một điều gì đó sẽ xẩy ra trong tương lai, và điều đó đã xẩy ra đúng như  họ đã “linh cảm” trước.Khoa học đã nhìn nhận và giải thích các vấn đề này như thế nào? Trong khuôn khổ bài báo này, chúng tôi giới thiệu các lí giải của một số nhà khoa học trên thế giới để bạn đọc tham khảo.
Không gian 4 chiều.
Như đã biết, không gian chúng ta đang sống là không gian ba chiều. Nhưng để giải thích các vấn đề trên, các nhà khoa học cho rằng không gian có thể có nhiều hơn ba chiều (bốn chiều, năm chiều…). Những người đã gặp được người hành tinh khác có liên quan đến một năng lực đặc biệt, giúp họ đi vào thế giới không gian bốn chiều bí ẩn, vì thế họ đã nhìn thấy những hình ảnh mà người khác không nhìn thấy được.
Theo các nhà khoa học, bộ não của con người bình thường không thể tưởng tượng được không gian bốn chiều. Điều này có thể được giải thích như sau: Chúng ta hãy giả thiết là có các sinh vật sống ở không gian hai chiều (sống trên một mặt phẳng). Ở trên mặt phẳng đó, chúng không hề biết gì về sự hiện hữu của không gian ba chiều. Vì vậy,  mọi chuyển động của chúng sẽ bị giới hạn trên mặt phẳng ấy và không thể tiến vào chiều không gian thứ ba như chúng ta. Giả sử có một quả cầu lọt vào thế giới đó, các sinh vật ở không gian hai chiều mới đầu sẽ nhìn thấy một điểm sáng, rồi đến các hình tròn to dần lên, đến mức cực đại, rồi các hình tròn nhỏ dần, thu lại thành một điểm, rồi biến mất. Kết quả là chúng chỉ nhìn thấy những đường tròn mà không hiểu toàn bộ câu chuyện về quả cầu  như  thế nào cả.
Nhưng, những điều thần bí đôi khi cũng đến với các sinh vật ở không gian hai chiều. Ví dụ, thời gian cần thiết để chúng vượt qua khoảng cách từ A đến B trên mặt phẳng (không gian hai chiều) khoảng chục năm. Nhưng vì một biến cố nào đó, mặt phẳng kia bị cong lại trong không gian ba chiều, khiến điểm A và điểm B gần nhau hơn, thậm chí trùng lên nhau. Khi đó điều kì diệu đã đến với chúng: Thời gian hàng chục năm để đi từ A đến B đạt được chỉ trong giây lát.

Trở lại vấn đề trên, các nhà khoa học giải thích: Không gian ba chiều nằm trong cái nôi của không gian bốn chiều (như không gian hai chiều nằm trong không gian ba chiều). Những ai có khả năng xâm nhập vào chiều không gian thứ tư, thì đối với họ khoảng cách hàng vạn km, thậm chí hàng vạn năm ánh sáng không còn ý nghĩa gì. Họ vượt qua trong phút chốc bằng cách đi qua “ khe hở” của chiều thứ  tư  này. “Khe hở” đó là biên giới ngăn cách hai thế giới: Thế giới của không gian ba chiều và thế giới của không gian bốn chiều. Đó chính là cơ hội để những sinh vật cấp thấp xâm nhập vào chiều thứ tư, như những người trên trái đất đã gặp người hành tinh khác.

Để chứng minh sự tồn tại của chiều không gian thứ tư, các nhà khoa học Mỹ dự định chế tạo một máy đo siêu nhỏ, nhằm chỉ ra các hiệu ứng khác lạ, dẫn tới kết luận về sự hiện hữu của các chiều không gian khác. Nguyên lí của thí nghiệm này như sau: Theo thuyết string (Thuyết hình sợi), ở các khoảng không gian cực hẹp (cấp độ nano mét (nm); 1nm = 10-7cm), không gian sẽ bị cuộn lại trong các chiều khác (chiều thứ tư, thứ năm…). Điều này sẽ làm thay đổi lực hấp dẫn giữa các vật thể trong không gian đó. Vì thế, nếu xây dựng được một thí nghiệm để chỉ ra sự thay đổi này của lực hấp dẫn, thì người ta có thể kết luận rằng có chiều không gian thứ tư.
Các nhà khoa học dự định sẽ đo lực hấp dẫn giữa hai lá kim loại siêu mỏng, đặt cách nhau một khoảng cỡ nano mét. Để đo được chính xác lực hấp dẫn này, người ta cần loại trừ một đại lượng gọi là hiệu ứng Casimir.
Theo cơ học lượng tử, hiệu ứng này được sinh ra bởi các photon ảo, thường bất ngờ xuất hiện trong chân không rồi lại tự động biến mất. Bình thường, trong không gian tồn tại các photon với các bước sóng khác nhau và rất đa dạng. Tuy nhiên, giữa hai tấm kim loại cực hẹp thì điều đó không thể có. Ở đây chỉ có các photon có bước sóng nhỏ hơn hoặc bằng khoảng cách giữa 2 lá kim loại. Hệ quả là giữa hai tấm kim loại sẽ có ít photon hơn bên ngoài. Sự chênh lệch về số photon trong và ngoài hai lá kim loại sẽ tạo ra một áp suất nhỏ, ép chúng lại với nhau. Lực đó được gọi là hiệu ứng Casimir.
Để loại trừ hiệu ứng trên, các nhà khoa học sẽ phải làm thí nghiệm với các lá kim loại giống hệt nhau, nhưng với các đồng vị khác nhau. Ở giữa chúng hiệu ứng Casimir sẽ giống nhau, nhưng lực hấp dẫn lại khác nhau (lá kim loại có đồng vị nặng hơn sẽ tạo ra lực hấp dẫn lớn hơn). So sánh hai lực hấp dẫn này người ta loại bỏ được hiệu ứng Casimir ra khỏi phép đo.
Các nhà khoa học hi vọng trong tương lai gần, các thí nghiệm này sẽ được thực hiện. Nếu thí nghiệm thành công, thì đây là một sự kiện chấn động vì nó sẽ khẳng định sự tồn tại của chiều không gian thứ tư, điều mà theo Stephen Hawking là không thể tưởng tượng được với bộ não con người bình thường.
Vũ trụ trong hệ toạ độ 11 chiều của Stephen Hawking:
Nhà vật lí người Anh Stephen Hawking mới phát triển ra một mô hình vũ trụ từ những công thức toán học tỉ mỉ. Những phát kiến mới này của Hawking dường như làm đảo lộn quan điểm khoa học truyền thống và được trình bày bằng thuyết M – M đồng nghĩa với magical (thần diệu), mystical (thần bí), mother (mẹ, gốc) – Thuyết này được coi là tổng hợp của thuyết lượng tử và thuyết tương đối. Trong khi thuyết tương đối giải thích thế giới ở dạng vĩ mô, có liên hệ với lực hấp dẫn, thì trong mô hình của thuyết lượng tử (miêu tả thế giới vi mô), không có tương tác này. Vì thế, thuyết M của Hawking được gọi là “thuyết lượng tử hấp dẫn”. Theo Hawking thuyết này cung cấp và lí giải chính xác về bản chất của vũ trụ.
Khi phát triển thuyết M, Hawking tin rằng đã đạt được những thành tựu có tính bước ngoặt, dựa trên nền tảng của một lí thuyết rất nổi tiếng trong những năm gần đây: Thuyết String. Thuyết này cho rằng, những thành tố nhỏ nhất tạo nên vũ trụ là những dạng thức hình sợi (string), chứ không phải dạng hạt. Nhưng ở xung quanh các sợi này, theo Hawking có hiện hữu một trường hấp dẫn và người ta có thể xác định được độ lớn của trường hấp dẫn ấy (thí nghiệm mà các nhà khoa học Mỹ dự định tiến hành như đã trình bày ở trên)
Dựa trên “thuyết lượng tử hấp dẫn” của mình, Hawking đã tính ra vũ trụ của chúng ta được hình thành từ 11 chiều. Nhưng chỉ có ba chiều không gian và một chiều thời gian đã mở, còn bảy chiều kia bị cuộn lại từ sau vụ nổ lớn.
Nhận xét về thuyết mới của Hawking, tạp chí khoa học P. M của Đức đã viết:” Khi bạn đọc những dòng này, thì cùng lúc, hàng trăm con người trong bạn đang đọc nó – những kẻ đồng hành với bạn – tất cả đều đang nhún vai như bạn, đều lắc đầu, nghi hoặc…”
Lí thuyết trên của Hawking đang gây ra nhiều tranh cãi lớn, vì nhà vật lí này cho rằng có thể giải thích được hiện tượng “linh cảm” một cách khoa học bằng thuyết M: Trong mô hình vũ trụ này, cùng lúc tồn tại vô số những con người khác nhau trong một con người. Và cùng lúc, tất cả thông tin về vũ trụ ở mọi thời đại đều hiện hữu. Vì thế, hiện tượng “linh cảm” có thể giải thích bằng việc một con người nào đó trong bạn đã trải nghiệm điều mà bạn sẽ trải qua, và mách bảo cho bạn biết trước điều đó.

  Bây giờ ta hãy thử xét vấn đề theo khía cạnh khác

Thời xưa, người phương Đông cổ đại cho rằng, năng lượng phát ra từ bộ phận trung tâm của con người, vùng trung tâm đó chính là “con mắt thứ ba”. Vì vậy hình ảnh con mắt thứ ba được thể hiện trên trán của các vị thần trong các bức tượng, tác phẩm điêu khắc cổ đại ở đền chùa Phật giáo. Truyền thuyết phương Đông cho rằng, con mắt nhìn thấu mọi điều được Thượng đế ban tặng cho các vị thần để họ có những năng lực siêu phàm (khả năng ngoại cảm) nhìn thấu những không gian khác.  Trong Yoga, việc luyện tập Marantha để có được một vài năng lực tâm linh thần bí như khai sáng được “con mắt thứ ba” mà người khác không có.
Người Ấn Độ thường chấm một điểm trên trán giữa hai con mắt để diễn tả con mắt thứ ba, chính là thần nhãn, để thấy được những gì mà hai con mắt trần vẫn nhìn mà không thể thấy được. Nhiều giả thuyết khác lại cho rằng, do từ thời xa xưa, Adam và Eva đã phạm luật thiên đàng nên hạch tuyến Pituitary và Pineal nằm ở khoảng giữa hai con mắt đã dần bị hạn chế khả năng nhìn nhận ánh sáng.
Tuy nhiên, theo nghiên cứu của một số nhà khoa học thì thông thường mỗi sinh vật có một con mắt thứ ba nằm ở trung tâm não có tên là tuyến tùng. Nó cảm nhận giống như một con mắt vì tuyến tùng phản ứng lại với những thay đổi của ánh sáng. Một khám phá gần đây cho thấy mắt thường cũng có thể sản xuất được chất melatonin, làm cho vai trò của tuyến tùng trong con người càng ít quan trọng hơn nữa.
Ở Việt Nam, nhiều cuộc thử nghiệm về đề tài này cũng đã được tiến hành. Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải đã từng nhắc đến cô gái Việt Nam có khả năng kỳ lạ trên và chương trình “Những chuyện lạ Việt Nam” cũng đã ghi hình và cho phát toàn bộ cuộc thử nghiệm khả năng đặc biệt của cô gái này. Mặc dù 2 mắt bị bịt kín nhưng cô vẫn đi lại, hoạt động và đọc chính xác sách báo như bình thường.
theo bocau net