Chào mừng bạn tới với Thế giới chiều không gian thứ 4

Thế giới chiều không gian thứ 4 là một thế giới chiều mới mà khoa học đang muốn khám phá..

Chúng ta có thể tượng tưởng thế giới không gian 2 chiều là thế giới phẳng, thế giới không gian 3 chiều là thế giới chúng ta đang sống và có 1 chiều thế giới khác, đó là chiều thứ 4 mà nhiều người còn gọi đó là chiều thế giới TINH THẦN..

Hãy cùng nhân vật trong truyện thả hồn vào các cuộc khám phá chiều thế giới thứ 4 này nhé..!!!

Ngọa thiền

Ngọa thiền - Thiền Nằm hay Thở Nằm Xả Trược của Bồ Tát Quán Thế Âm.

Nghiêm chỉnh thực hành thì tốn lối 8 tới 10 phút cho mỗi lần tập, nhưng thường thì ngủ quên hoài. Lưu ý là người chưa khai mở huyệt Bách Hội ở trên đầu thì chỉ tập pháp nầy cho đến khi nếu bộ đầu bị đau nhức thường xuyên thì bỏ. Nghỉ một thời gian cho hết đau rồi lại tập tiếp. Nếu có một phương pháp nào tập kèm theo để khai mở Thiên Môn, hoặc giả có duyên nhờ được ai khai dùm cho, hoặc huyệt Bá Hội trên đầu đã lõm xuống, thì nên tập pháp nầy còn không thì ráng chịu đau đầu một chút. Khi bỏ thôi tập thì hết đau. Khi bộ đầu khai mở được rồi thì hết đau luôn. Ai cũng chịu khó khăn nầy, không kiếp nầy thì kiếp trước đây, dở rồi hóa hay. Chẳng ai sinh ra là thành Tiên hóa Phật liền đâu.

          a)- Công dụng: Hóa giải điển trược và điển bịnh, cũng như Tà khí, độc khí trong bản thể (cho người có bịnh Tà). Thứ hai là điều hòa Tâm-thần, điều hòa nhiệt lượng nóng quá hay lạnh quá. Thứ ba là trị các bịnh bướu ngoại hay ung-thư nhẹ. Thứ tư là giải bịnh táo bón, cho tiêu hóa nhuận trường. Thứ năm là giải bịnh mất ngủ, khó ngủ. Thứ sáu người lớn làm được rồi thì chỉ cho trẻ con khi bị cảm, ấm đầu sổ mũi do thay đổi thời tiết. Nên uống một ly nước ấm rồi trùm mền lại kín mà tập nhiều vòng cho tới khi xuất được mồ hôi ra thì giải cảm. Mỗi ngày nếu chịu khó nhắc cho chúng tập vào trước mỗi bữa cơm, trước khi đi ngủ, khi mới thức dậy một thời gian thì chống được bịnh tật do thời tiết và người chung quanh lây sang, mới giữ hạnh phúc gia đình vững.

          b) Kỹ Thuật Thở Nằm: uống một ly nước ấm trước khi tập nếu là mùa Đông còn Hè thì nước mát, đắp mền kín được thì càng tốt. Nằm duỗi tay chơn theo chiều dọc thân người cho thoải mái. Mắt nhắm lại, miệng ngậm lại bình thường, chỉ có đầu lưỡi co lên chân hàm răng trên. Hai tay thì bắt ấn Hỏa. Đây là phương pháp thở bụng nằm. Lúc đầu tiên phải duỗi chơn tay thẳng ra tập. Cho tới khi cảm thấy điện chạy xuống tỏa ra ở lòng bàn chơn được rồi mới bắt đầu co hai chơn dựng đầu gối lên như hình vẽ dưới đây để đem máu về bảo vệ hai cái thận.



          c)-  Cách đếm hơi thở: Hít hơi vô phình bụng, thở hơi ra xệp bụng, không cho ngực rung động. Hít vô thở ra xong đếm 1, hít vô thở ra đếm 2, đếm cho tới 12 nghỉ ở đây lối 5 hay 10 giây. Trong lúc  nghỉ nầy giữ nguyên tư thế lúc đầu, tay vẫn bắt Ấn. Rồi tiếp tục hít vô thở ra đếm 1, hít vô thở ra đếm 2, đếm cho tới 11 lại nghỉ như vừa rồi. Bây giờ lại hít thở trở lại đếm tới 10 thì nghỉ, rồi đếm tới 9 nghỉ, 8 nghỉ, 7 nghỉ, và nghỉ xuống mãi  tới 6, 5, 4, 3, 2, 1 là xong một lần tập. Còn thì giờ thì tập thêm nữa. Hơi thở phải nhẹ nhàng, không cố hít vô nhiều quá.


       
           
        d)- Trạng thái xảy ra trong lúc tập:

          Ai đã bị Thiêng Liêng vô ra phiền toái (có nơi gọi là Ma nhập hay Điển nhập, có người dựa hay thần kinh giả) mà muốn Tu thì phải cương quyết tập cho bằng được Pháp Thở nằm nầy thì mới mong họ để yên cho mà Tu Hành. Nếu ai ở trong hoàn cảnh nầy thì phải cương quyết lắm mới làm chủ lại được bản thể. Khuyên họ ra ngoài rồi cùng tu chứ không đuổi họ, nhớ phải độ cho họ mới xong. Hiện nhiều Pháp Tu khác cũng mượn Pháp nầy để thanh lọc bản thể trước khi Thiền. Tập đúng thì sẽ cảm thấy:
          - Toàn thân chỗ nào cũng có thể xảy ra ngứa ngáy, hãy cố gắng trân người chịu đựng một thời gian sẽ quen vì đó là trược điển xuất ra, gãi sẽ làm chận đứng sự phóng trược, không nên gãi.
          - Hình như có con gì bò bò trong người hay ngoài da, đó là Điển, nhân điện bắt đầu chạy, lúc đầu hơi khó chịu nhưng rồi quen dần.
          - Có thể cảm giác như toàn thân nâng bổng lên khỏi nơi mình nằm cũng đừng sợ, đây là trạng thái điển trược của thể xác xuất ra, cứ niệm Phật hay Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát, hoặc cũng có thể niệm Chúa và Đức Mẹ để trấn an và tiếp tục làm công việc của mình cho tới khi xong.

          e)- Cách bảo vệ cho hành giả:

  Những cảm giác, những trạng thái làm bực mình trong thời gian công phu pháp nầy thì hãy niệm: “Nam Mô cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bố Tát” nhiều lần, một lát sau thì trong tâm được an ổn trở lại ngay mặc dù trạng thái đau nhức, khó chịu kia chưa biến mất. Cứ tiếp tục niệm như vậy rồi trong tâm mình sẽ xảy ra ý tưởng mới để biết sửa chữa như thế nào cho những sự khó chịu kia dang ra xa. Tuy nhiên bất cứ một phương pháp tập luyện nào của nhà Phật cũng đều lấy tịnh thắng động, và kiên trì ý chí tu học với một hạnh nguyện đem lợi lộc cho tha nhơn dù kẻ âm hay người dương, nếu mình thành công trong tương-lai.

Tại đây, kính chúc an lành để tập luyện từ 3, 6 tháng tới một năm sau hay lâu hơn nữa mới tiến lên việc kỹ thuật ngồi Thiền. Thời gian dài ngắn nầy là tùy nơi hành giả thanh lọc thân xác xong sớm hay muộn đó thôi.

Đừng nên dục tốc bất đạt. Chỉ cần cái Tâm muốn cãi sửa thì dù có ra đi bất thình lình thì trò bảo đảm là hưởng được ân huệ “Sống gởi thác về thiên giới” rồi chứ không phải lạc vào 4 đường ác đâu mà sợ. Tuy nhiên nếu hấp tấp luyện tập do cái Tâm Tham vọng động, vọng tưởng sớm thành tiên thành Phật này nọ kèm theo thì Mô Phật! Bà con chung quanh quý vị dẫn dắt quý vị theo họ chứ trò hoàn toàn không trách nhiệm. Thời đại ngày nay là Ma cường Pháp nhược, người hiền hay gặp nạn là vậy. Là do cái Tâm mình móng lên, dấy lên thì có người tới lo ngay, giúp ngay. Nhớ rằng: Cầu thì lụy, Cầu thì kỳ, kỳ cục đó.

Chiều không gian thứ 4 (không gian của linh hồn)​

Chiều không gian thứ 4 (không gian của linh hồn)​ “Việc nghiên cứu về chiều đo thứ tư dường như đưa thẳng ta tới Thần Bí Học”, cho nên thật khó có hi vọng con người với nền khoa học hiện tại, mà tìm kiếm được đường vào không gian thứ 4. Chỉ có “vứt bỏ bản ngã”, “đặt căn cứ và bắt rễ nơi tình thương, có thể cùng với chư thánh hiểu được thế nào là chiều rộng, chiều dài, chiều sâu và chiều cao”



Hàng ngày, tôi và bạn cùng nhìn ngắm ánh sáng mặt trời ló dạng từ đằng đông, những tia nắng vàng đỏ xuyên qua từng tầng mây, sưởi ấm và lo toan cuộc sống của muôn loài. Ai mà không yêu dòng sông nước trong xanh thong thả rong chơi, nâng niu từng đàn tôm cá vào lòng, cất tiếng hát ầu ơ, dưỡng dục thành hình. Bên kia bờ, dăm ba chòm cây phơi mình trong nắng sớm, sau buổi tắm sương với vòi sen của đất trời.

Vậy là, điều tồn tại xung quanh ta, trước mắt ta, được khoa học gọi là không gian ba chiều. Nhưng, liệu ngoài những thứ ta đụng chạm, ta nâng niu hàng ngày kia ra, còn có chiều không gian thứ tư, hay thứ năm nào nữa hay không? Vì sao, trong giấc mơ, đôi khi tôi lại thấy mình đi lạc vào nơi không thấy tồn tại trên cõi trần này. Đấy là, tôi hả hê trong ngôi nhà dát vàng óng ánh, hay bay lơ lững trong không gian với cảm giác sung sướng thanh thảng tột cùng. Và khi tỉnh giấc rồi, tôi mường tượng mình vừa trải nghiệm qua một điều gì, chứ chẳng phải mơ. Có phải chăng, với tôi thực và mơ đã trộn lẫn vào nhau rồi?

Nhưng lạ lùng thay, những cuộc lên đồng, gọi hồn người chết, tìm mộ liệt sĩ, xãy ra rầm rộ ở đất nước ta trong thời gian vừa qua, lại không phải là một cơn mê sảng. Thực tại hiện hình kia, vội vã gây nhiều tranh cãi ở khắp nơi. Những lý lẽ bác bỏ cho rằng, thầy đồng giở trò bịp đằng sau tấm màn huyền bí; hay đấy là cơn điên loạn của trào mê tín dị đoan còn tồn tại từ thời con người “ăn lông ở lổ”. Nhưng vậy ai đủ khả năng bác bỏ sự tồn tại linh hồn người sau khi chết, khi mà niềm tin đó đã tồn tại từ lâu lắm với những người theo duy linh thuyết, hay Phật giáo.


Linh hồn tồn tại. Nhưng họ sống ở đâu, thiên đàng hay địa ngục. Thiên đàng, phải chăng được xây dựng trong những tầng mây màu sắc, trên bầu trời thăm thẳm kia? Hay là vương ra tận ngoài không gian vũ trụ xa tít, trên một hành tinh trôi nổi bồng bền trong Thái dương hệ mông mênh, mà chẳng có họng kính viễn vọng tối tân nào có một giây cơ hội nhìn thấy nó. Và địa ngục, liệu có phải cư ngụ dưới lòng đất ngầm sâu thẳm tối tăm, có khi, vào tận bên trong lõi địa cầu đang sôi sùng sục, nơi chưa một mũi khoan nào của con người xuyên tới được. Hay là nó ở Becmuda, cánh cửa vào âm ti, vùng cấm địa đã nuốt chửng rất nhiều thuyền bè, phi cơ, của con người trên thế giới.

Như vậy, thực sự tồn tại một chiều không gian khác ngoài những chiều không gian hiện tại. Giới khoa học đang xét lại, và cũng bắt đầu nghiên cứu và tiến đến nhìn nhận điều này.

Bà Lisa Randall trong quá trình thí nghiệm về hạt cơ bản, bất ngờ phát hiện thấy có những hạt bổng dưng hô biến. Bà liền đưa giả thuyết: “Tôi cho rằng trên Trái đất có tồn tại không gian chiều thứ 5. Nếu giả thiết này là đúng thì thực ra các không gian khác không ở xa chúng ta, thậm chí có thể nói chúng ở cách ta trong gang tấc. Chỉ có điều chúng ẩn giấu rất khéo cho nên ta không nhìn thấy mà thôi.”

Các thuyết lý thuyết vật lý hiện đại, như thuyết String, cho rằng. Ở các khoảng không gian cực hẹp (cấp độ nanomét), không gian sẽ bị “cuộn” lại trong các chiều khác (có thể là chiều thứ 4, thứ 5 hoặc nhiều hơn). Điều này sẽ làm thay đổi lực hấp dẫn giữa các vật thể trong không gian đó. Vì thế, nếu người ta xây dựng được một thí nghiệm để chỉ ra sự thay đổi này của lực hấp dẫn, thì người ta có thể kết luận rằng, có chiều không gian thứ 4.

Tại Đại học Duke và Rutgers, các nhà khoa học cùng hợp sức phát triển một mô hình toán học, mà họ cho rằng sẽ giúp các nhà thiên văn học thử nghiệm định luật hấp dẫn trong không gian 5 chiều đo, để đối chiếu với Thuyết tương đối tổng quát của của Anh-xtanh. Lý thuyết này cho rằng, vũ trụ hiện tại là một màng (braneworld) nằm trong một vũ trụ lớn hơn, giống như một sợi tảo mỏng nổi trên đại dương. Vũ trụ màng có 5 chiều: 4 chiều không gian, 1 chiều thời gian; so với 3 chiều không gian, 1 chiều thời gian của Thuyết tương đối tổng quát. Họ còn nói, “nó sẽ làm đảo lộn các lý thuyết hiện tại. Nó sẽ xác nhận rằng còn có một chiều thứ 4 của không gian, và nó sẽ tạo ra một sự thay đổi về triết học trong hiểu biết của chúng ta về thế giới tự nhiên”.

Hội Thông Thiên Học thông qua việc tập hợp các tài liệu tôn giáo cổ xưa và thực hành khoa yoga, đã cho rằng, trong không gian tồn tại ít nhất 7 chiều đo. Cõi Trung giới có 4 chiều đo, cõi Trí tuệ có 5 chiều đo và cõi Bồ đề có 6 chiều đo. Mỗi cõi này được cấu tạo bằng những vật chất khác nhau, cho nên, người ở cõi dưới không thể thấy được vật chất ở các cõi cao hơn.

Các chiều đo này tồn tại cùng một nơi, nghĩa là có 7 chiều đo ở trong một không gian. Sự khác nhau “là do tầm nhận thức hạn hẹp” của con người với sự vật, và “thời gian thực ra không phải là chiều đo thứ tư” như Thuyết tương đối tổng quát trình bày.

“Việc nghiên cứu về chiều đo thứ tư dường như đưa thẳng ta tới Thần Bí Học”, cho nên thật khó có hi vọng con người với nền khoa học hiện tại, mà tìm kiếm được đường vào không gian thứ 4. Chỉ có “vứt bỏ bản ngã”, “đặt căn cứ và bắt rễ nơi tình thương, có thể cùng với chư thánh hiểu được thế nào là chiều rộng, chiều dài, chiều sâu và chiều cao”.

Nói theo Duy linh thuyết của nhân gian, cõi âm, tức là chiều không gian thứ 4 mà khoa học đang tìm kiếm. Cõi này Thông Thiên Học gọi là Trung giới. Và con người chúng ta, dầu còn sống hay đã chết, đều đã bước đi trên đó ít nhiều. Người chết chuyển hẳn sang cõi đó, và người sống thì phiêu bồng bên ấy trong giấc ngủ – mà ta thường gọi là mộng mị hay giấc mơ.

ĐỖ BẤT NHỊ

Diễn Đàn Nhân Điện và Tâm Linh

Ngày rằm tháng giêng thấy suy nghĩ về việc ăn chay

Ngày rằm tháng giêng thấy suy nghĩ về việc ăn chay..- “Ăn cỗ chay không cầu thịnh soạn, ê hề các món. Ăn chay cũng đừng quá tìm cái khoái khẩu trên đầu lưỡi mà nên tìm những cái thanh tịnh lắng đọng suy tư từ đồ ăn..chỉ mong người ta ăn chay không nghĩ mặn, như vậy không bằng ăn mặn nghĩ chay”...


Đại đức trầm tư: “ Ăn chay là để thể hiện lòng từ bi. Ăn chay là ăn thật, có sao ăn vậy chứ không cầu sang trọng nhiều món. Giáo lý của đạo Phật không có chuyện “hồn chay, hình mặn”. Nếu ăn chay mà lòng vẫn tơ tưởng đến món mặn thì khác gì ăn mặn. Bây giờ nhiều người ăn chay như một thứ để thể hiện, họ không hiểu được triết lý của đạo Phật về ăn chay.

Ý nghĩa của câu "Án Ma Ni Bát Minh Hồng "

Om Mani Padme Hum là một câu thần chú tiếng Phạn, được xem là thần chú cầu Quán Thế Âm Bồ Tát (Avalokiteshvara) và là thần chú quan trọng và lâu đời nhất của Phật giáo Tây Tạng. Nó còn được mệnh danh là “Lục Tự Đại Minh Chân Ngôn” tức là “Chân ngôn sáng rõ bao gồm sáu chữ”.
Om : Quy mệnh
Mani : Viên ngọc như ý
Padme : Bên trong hoa sen
Hum : Tự ngã thành tựu
Có thể dịch câu này là Om, ngọc quý trong hoa sen, Hum. (Om, to the Jewel in the Lotus, hum). Theo âm Hán-Việt, câu này được đọc là Úm ma ni bát ni hồng hoặc Án ma ni bát mê hồng.



Bạn nên biết đây là câu thần chú lâu đời và quan trọng nhất của Phật giáo Tây Tạng.Nó được mệnh danh là "Lục Tự Đại Minh Chân Ngôn" tức là "Chân ngôn sáng rõ bao gồm sáu chữ".Đây là câu thần chú rất phổ biến và được sử dụng rất nhiều trong các nghi lễ.Nó có công năng rất lớn,lớn đến nỗi nó giúp cho hành giả trì niệm phát sanh công đức nội tâm đưa hành giả đến giác ngộ và giải thoát.Khi bạn bực tức điều gì,hãy cố gắng tập trung và thành kính trì niệm và sẽ thấy đc kết quả,vì thần chú này tượng trưng cho Từ Bi và yêu thương phá tan sân hận.

Đọc các sách Tây kể về Phật giáo ,cũng thấy các câu chú đó xuất hiện ở các nhà tu ;như các nhà tu thần bí ở Tây tạng ,muốn xử dụng pháp thuật ,đều đọc lời chú :Án ba ni bát mê hồng ấy .
Sự phiên âm của lời chú có hơi khác .Có sách Việt còn phiên âm là Ốm ma ni bát mê hồng .Còn lời phiên âm trong sách Tây thì ghi :Aum mani padme hum .(đó chính là câu mà ta phiên âm lại )..Hoặc ta phiên âm sách của Tàu ,mà sách Tây cũng phiên âm từ sách Tàu .
Một nhà Phật học ,ông Thu giang ,đã từng bảo với tôi (người dịch ):An ma ni bát mê hồng hay Aum mani padme hum chỉ là tiếng phiên âm của tiếng chuông chùa .


Thông thường người ta không giảng nghĩa thần chú, nhưng ở đây cần nói thêm là: “ngọc quý” biểu hiện cho Bồ-đề tâm (bodhicitta), “hoa sen” chỉ tâm thức con người, ý nghĩa là tâm Bồ-đề nở trong lòng người. Tuy nhiên thần chú có những âm thanh riêng biệt và những tác dụng bí ẩn theo cách trình bày của Kim cương thừa. Đối với Phật giáo Tây tạng thì Om Mani Padme Hum chính là lòng từ bi rộng lớn, muốn đạt Niết-bàn vì lợi ích của chúng sinh. Vì vậy sáu âm tiết của thần chú này cũng được xem là tương ưng với sáu cõi tái sinh của dục giới.

Mật tông “cô gái khỏa thân ôm Phật“

Gần đây, cộng đồng cư dân mạng xôn xao về hình tượng “người nữ ôm trong lòng Phật”. Quả thật, đây là vấn đề nhạy cảm và xa lạ đối với hầu hết tín đồ Phật giáo trên thế giới ngoài một bộ phận Mật tông; sở dĩ gọi là một bộ phận, vì không hẳn toàn bộ Mật pháp đều sử dụng biểu tượng như thế.
Có sự tương thông trong các pháp hành Du già, đạo học, Tiên thiên hợp lưu, Thủy hỏa ký tế, âm dương bảo hòa, Châu Thiên tiểu-đại…của Đông Phương, cũng như một vài Mật pháp của Ấn giáo, Ba Tư và Ai Cập cổ đại.

Riêng những biểu tượng trên, xuất hiện rất sớm trong nền triết lý Ấn giáo, một triết lý chuyển hóa hành giả bằng những biểu tượng cụ thể, có trước thời kỳ Phật giáo xuất hiện; chúng nằm vùng Bắc Ấn, vào khoảng thế kỷ thứ VI trước công nguyên; các hành giả ẩn cư trong dãy Hy Mã Lạp Sơn, tại Trung Hoa, Lão Trang và các Đạo gia cũng xuất hiện lý thuyết Âm-Dương ngũ hành áp dụng vào tu luyện, đạo học, y học, võ thuật, kinh dịch, bói toán, địa lý… Do Ấn giáo nặng về tín ngưỡng đa Thần nên lý thuyết Âm Dương, sáng tạo và hủy diệt, trí tuệ và vô minh chuyển hóa thành những biểu tượng cụ thể.
Vì vậy, Ấn Độ có thần Shiva, Nữ thần Nataraja được coi như là hóa thân của thần Shiva, thần Vishnu, thần Thấp Ti Nô, thần Na La Diên Na, thần Thấp Bà là Linga, biểu tượng dương vật, thần Shesha là vua của loài rắn. Brahma còn là một sự nhân hóa của Đại ngã. nó được dùng để chỉ quyền năng được gọi là "Tuyệt đối" đằng sau mọi sự sáng tạo. Trong ý nghĩa triết học, Brahma biểu thị khuynh hướng vận động điều hòa (rajas), tạo nên thế quân bình giữa hai khuynh hướng quy tâm (sattva) và ly tâm (tamas), giữa bảo tồn và hủy diệt mà thần Vishnu và Shiva là biểu hiện… Mọi hiện tượng trong thiên nhiên được Thần hóa biểu tượng, vì thế, tại Ấn Độ có quá nhiều tôn giáo tín ngưỡng mang nhiều màu sắc. Cho dù màu sắc nào, tín ngưỡng nào, cũng không ngoài lý thuyết cơ bản Sáng tạo, hủy diệt và bảo hòa mà đạo học gọi là Âm-dương và quân bình.
Sau 6 thế kỷ đức Phật nhập diệt, một số bộ phái ra đời, Nam Ấn giữ được nguyên tính truyền thừa, Bắc Ấn, vài bộ phái chịu ảnh hưởng Yoga trong triết thuyết và hành trì, chính vì thế Mật pháp của một bộ phận Bà La Môn thâm nhập vào hành giả ẩn cư, lập ra Mật tông, dung hóa giữa giải thoát của Phật giáo và triết thuyết hiện tượng của Bà La Môn.
Những biểu tượng Thần giao hợp đã xuất hiện rất sớm, mà theo truyền thuyết, thần Brahma cũng từng vi phạm loạn luân, trong bộ ba Brahma – Shiva – Visnhu đã kết hợp thành một học thuyết giềng mối giữ thế tồn tại cho Bà la môn (Tam vị nhất thể). Theo Ấn Giáo, vấn đề âm – dương giao thoa là việc tất yếu của mọi sinh vật, khác chăng là các đạo sĩ nâng chúng lên một giá trị triết học.
Khi những biểu tượng tất yếu thâm nhập vào một bộ phận hành giả Mật pháp của Tăng sĩ Phật giáo, các ngài dung hóa lý thuyết giải thoát và biểu tượng trên căn bản đối diện sự thật. Khác với chủ trương Nam truyền, “Ly dục, ly ác pháp” các Tổ Mật pháp xem “thế gian pháp tức Phật pháp”. Mọi hiện tướng, bản thân chúng không tốt xấu, do tâm dục mà chúng biến thành xấu và với tâm thanh tịnh chúng là phương tiện đạt đến diệt dục. Trong các bộ phái và pháp hành Phật giáo Bắc truyền, phải nói Mật tông nói chung và Kim Cang Thừa nói riêng, đòi hỏi hành giả một nghị lực phi thường để vượt qua những cảnh đời thường, đó là đi trực tiếp, giải thoát nhanh nhất để chuyển hóa tâm thức.
Hầu hết các pháp hành đều khuyên hành giả trốn chạy, tránh xa các lạc thú nhạy cảm, nhưng xét cho cùng, đó chỉ là lấy đá đè cỏ, những chủng tử bất thiện trong tiềm thức vẫn đang ấp ủ chờ cơ hội bùng phát. Hưởng thụ dục lạc nằm trong hai trạng huống, hoặc hưởng thụ với tâm ô nhiễm hoặc hưởng thụ bằng sự tỉnh giác để chuyển hóa  tâm nhiễm ô. Và nhất là những hành giả giải thoát, cần đối diện thực tại để chuyển hóa tâm thức nhiễm ô. “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác…” vì thế, bất cứ những gì có mặt trong cuộc sống, từ chiếc lá rơi đến sinh hoạt tâm sinh lý, từ hiện tượng thiên nhiên đến bản năng sinh tồn của động vật, chúng đều là những công án để hành giả hóa giải những mắc mứu trong tâm thức.
Một tu sĩ từ bé được thầy cho sống ở núi, khi trưởng thành, xuống phố nhìn cái gì cũng lạ, cái lạ nhất là các cô gái mà mình chưa gặp bao giờ, về lại núi, tu sĩ trẻ thẫn thờ giao động mãi, thầy biết được chủng tử vô mình trong tâm thức người đệ tử trỗi dậy, thầy đem một bức tranh phụ nữ kiều diễm dán trên tường, hướng dẫn đệ tử quán chiếu tất cả mọi ngõ ngách mà người đệ tử bị thu hút; một thời gian sau, người đệ tử hiểu rằng, cái mà thu hút chàng không phải là sắc đẹp của phụ nữ mà là sắc dục ẩn tàng trong tâm thức có dịp bộc phát.
Cũng thế, tất cả pháp tướng thế gian dù đẹp hay xấu, không phải là nguyên nhân làm cho ta sa đọa mà chính ta đã làm cho những pháp thế gian sa đọa xấu xa hơn. Vì thế, tu tập là sự chuyển hóa tâm thức chứ không phải ức chế tâm thức trước thực tại.

Trong một số Kinh điển ngoại giáo có trước thời đức Phật, ngoài hình ảnh, còn hướng dẫn rất kỷ về thao tác làm tình để nâng cao sự khoái lạc thể xác, biến cảm xúc lên tầng số giao cảm thánh thiện thoát tục, đó là những mật pháp dành riêng cho những hành giả Yogi có một năng lực tinh thần tuyệt hảo. Bởi vì, theo lý thuyết, trong mỗi sinh động vật đều hàm tàng hai nguồn năng lượng âm dương, do thiếu quân bình đem đến bệnh hoạn, sa đọa…luôn cảm thấy thiếu nên chạy tìm để hưởng thụ và đánh mất sự sáng suốt. 

Trên bình diện cảm xúc trần tục, chúng ta xấu hổ trước những hình ảnh giao hoan như thế, thực ra “chư Thần giao hợp” là một vũ điệu hợp nhất năng lượng âm-dương trong mỗi con người cũng như vũ trụ. Các hành giả Yogi, đó là một pháp hành tối thượng phát sinh đại lạc vi tế nhất của mật pháp, hoàn toàn không tùy thuộc vào đam mê cảm xúc của giác quan mà “nam thần“ biểu thị cho đại lạc và “nữ thần” là biểu tượng của đại trí; Trí lạc viên dung là sự toàn vẹn tột đỉnh của một thành tựu giả.
Trước hình tượng xuất hiện khắp các tu viện tại Bắc Ấn tu mật pháp này, giúp hành giả cảm nhận được sự quân bình âm dương trong nguồn sinh lực cơ thể, vì các hành giả đã vượt khỏi tâm phân biệt nhị nguyên. Một hành giả bước vào mật pháp hoan lạc này phải chọn 1 trong 4 giai đoạn của mật điển:
Mật điển thiên về hành động, mật điển thiên về tư duy, mật điển du già và tối thượng du già. [1] Mỗi hạng dành cho một loại hành giả đặc biệt, trước khi chọn một trong bốn mật pháp để thực hành theo từng căn cơ, hành giả cần trải qua 4 giai đoạn tối cần của mật pháp: Thứ nhất là pháp Du già tịnh hóa triệt để môi trường chung quanh; thứ hai là pháp Du già tịnh hóa triệt để thân xác; thứ ba là tịnh hóa triệt để mọi cảm thọ; thứ tư là pháp Du già tịnh hóa triệt để mọi hành vi.[2] 

Như thế một hành giả Yogi không thể là kẻ lạm dụng của sự lạc dục. Ham muốn là bản năng tiềm ẩn của động vật, chuyển hóa năng lượng ham muốn như thế nào để năng lượng ham muốn biến thành năng lượng tuệ giác là một vấn đề mà hành giả cân nhắc rất kỹ. Thế tục do không thỏa mãn những ham muốn sinh ra tha hóa, khổ đau, điên loạn, thực tế ham muốn là một năng lượng thiếu quân bình, nếu không có pháp hành thì con người không bao giờ bù đắp được sự thiếu hụt đó, luôn quay cuồng tìm kiếm trong đau khổ.
Các mật pháp cung cấp cho hành giả một pháp hành với một ý thức rõ ràng, tự bù đắp và chuyển hóa những thực tại trong chính ta chứ không phải từ ngoại cảnh. Thực hành Mật pháp là hợp nhất kinh nghiệm lạc thú với ánh sáng tâm linh; cũng như khi nam nữ giao hoan, ánh sáng chợt lóe trong lúc cực khoái  từ đó, thần thức cõi trung giới có duyên theo đó nhập thai. Cái lạc thú và ánh sáng của hành giả trong lúc luyện đạo là một thăng tiến nội lực lúc bảo hòa năng lượng âm dương nội tại, từ đây, đưa hành giả đến sự thành tựu giải thoát hoàn toàn.
Trước khi có hình tượng "cô gái ngồi trong lòng Phật" thì cũng đã có nhiều tranh tượng của Ấn Độ miêu tả giao hoan nam nữ trước nhiều thế kỷ. Chỉ vào thế kỷ thứ VI khi Kim Cang thừa chịu ảnh hưởng giữa Phật và Ấn giáo thì pháp hành pha trộn giữa hai giáo lý, thiên nặng về Mật giáo được truyền bởi một chân sư nghiêm mật, nên ít phổ biến, vì thế vẫn giữ được mạng mạch không gián đoạn. Đặc trưng Mật pháp chú trọng đến cực quang và hoan lạc pháp để thăng hoa tâm thức mà Duy thức gọi là “Bạch tịnh thức” lúc ấy thức biến thành Trí, Trí tuệ siêu việt khai mở.
Những hình tượng xuất hiện trên mạng gần đây, do chưa hiểu giá trị tuyệt đỉnh của pháp hành, nên quần chúng phẫn nộ, xem như một điều bất kính với đức Phật, nhưng thực tế, nhìn sâu hơn, điều đó đã tăng giá trị điềm nhiên giải thoát và hoan lạc của bậc giác ngộ trước một đối tượng mà Ấn giáo gọi là mẹ Vũ trụ giao hòa, Mật thừa xem là sự quân bình năng lượng chân và tục, trí tuệ và giải thoát một cách bản nhiên.

Tìm hiểu về tu tiên

Hướng dẫn cách tu tiên -  - phần 1 tìm hiểu tu tiên - Tu tiên chẳng dễ và chẳng phải con đường nào chính xác cho từng người, tu tiên chỉ để cho người có cốt tiên và duyên với tiên, nên các bạn nào không có duyên, cốt thì cũng đừng nên mộng đến quá cao rồi lãng phí thời gian nhiều nhé, tất nhiên..Nó cũng sẽ đạt được một số cái đích, tuy nhiên có thể làm bạn thất vọng, theo mình các bạn nên tìm đúng cái duyên của mình để tu sẽ tốt hơn.



Không chỉ con người tu thành tiên mà các loài khác cũng có thể. Loài quỷ tu tiên đắc đạo gọi là Quỷ tiên. Loài thú cũng có thể tu thành tiên nhưng trường hợp này  rất hiếm.

Trong “Liêu trai chí dị”, hoặc các truyện Tàu. Tuy là thần thoại nhưng thực tế trên căn bản lý thuyết, đều có thật những con quỷ, con vật tu thành tiên.

Tùy theo không gian mà chia thành 2 loại tiên: những vị tiên nào còn hiện hữu trên cõi Ta ba dương thế gọi là Địa tiên. Những vị tiên nào ở trên cõi trời Dục giới gọi là Thiên tiên. Những vị Tiên nhân sau khi mạng chung sẽ thác sanh vào cõi trời, thường là trời Tứ đại thiên vương, Đao lợi. Họ thường được các vị trời vấn đạo, cầu pháp. Thuở xưa, Thiên Đế cầu đạo ở một vị Thiên tiên nên gây hiểu lầm cho Thiên hậu, vốn là công chúa của A tu la vương. Đây là nguyên nhân gây ra cuộc chiến long trời lở đất giữa phe A tu la và Trời. Phe bên Trời suýt bại trận, nên cầu cứu Đức Phật mới bảo toàn được thiên giới.

Nếu như những vị Địa tiên tiêu diêu ở dương gian, ẩn mình đó đây trong đảo vắng, thâm sơn cùng cốc, tự tại tháng ngày, thì những vị Thiên tiên tịnh cư ở rừng Linh Nguyên trên trời, biệt lập với các nước trời nhưng thuộc cõi trời. Trái với các vi trời hoan lạc ái dục, các vị thiên tiên, địa tiên tuyệt dục, chỉ hoan hỷ với lẽ Vô vi của Đạo.

Nói đến Chân tiên đương nhiên phải đề cập đến Ác tiên, Tà tiên. Những vị Địa tiên (quỷ tiên hoặc tiên nhân) vì chưa diệt được bản ngã, nên đôi khi bị tác động của danh lợi, quyền thế, cám dỗ ngũ dục, nên trợ giúp con người gây chuyện bất thiện, khiến cho đồng đạo đấu tranh lẫn nhau.


Nghiệp lực đời trước và bệnh tật đời này

Trong giới tu luyện, người ta tin rằng “nghiệp” được tích tụ từ những kiếp trước và khiến người ta bị bệnh. Cũng có nghĩa rằng, con người không chỉ có một đời, mà là nhiều đời, và “tội lỗi” gây ra được tích lại qua thời gian. Càng phạm nhiều tội thì căn bệnh càng khó chữa. Nghiệp lực từ các kiếp sống trước có tác dụng nhân quả dẫn đến bệnh tật trong đời này. Đối với hầu hết con người ngày nay, điều này như rất kỳ lạ và khó tin. Tuy nhiên trên thực tế, ngày nay có những người thực sự vận dụng nguyên lý này để trị bệnh. Nhiều nhà khoa học thủ cựu đã tiến hành rất nhiều nghiên cứu và xác nhận quan điểm này. “Liệu pháp tiền kiếp” chỉ là một ví dụ điển hình.

Ở phương Tây, “liệu pháp tiền kiếp” đang ngày càng nhận được sự chú ý của cộng đồng khoa học. Cuốn sách Many Mansions được viết bởi giáo sư Gina Cerminara đã ghi lại phương pháp điều trị được Edgar Cayce tiến hành sau khi “soi kiếp” cho bệnh nhân.



Edgar Cayce là một nhà thôi miên và tiên tri người Mỹ có “công năng đặc dị”, người có thể chẩn đoán và điều trị bệnh nhân từ cách xa nhiều dặm. Trong số các bệnh nhân được Edgar Cayce điều trị, một trường hợp có thể lấy làm ví dụ như sau:

Có một cậu bé 11 tuổi mà từ năm lên hai đã mắc bệnh đái dầm. Khi cậu lên ba, cha mẹ cậu tìm một nhà tâm lý học tới để chữa trị. Sau một năm, việc điều trị vẫn không có kết quả. Cha mẹ cậu đã dành rất nhiều thời gian và công sức để tìm một phương pháp chữa trị. Tuy nhiên đến năm 11 tuổi, cậu bé vẫn không thể ngừng đái dầm.

Lúc cậu bé 11 tuổi, cha mẹ cậu đã nhờ Edgar Cayce chữa cho cậu. Sau khi “soi” được tiền kiếp của cậu bé, Cayce khám phá ra rằng vào thế kỷ 17, câu bé đã từng là một Giám mục người Anh. Cậu thích dùng cực hình với các tù nhân khi xét xử họ. Tù nhân bị trói vào một chiếc bảng và từ từ nhấn xuống nước lạnh.

Phát hiện này đã cho thấy tội lỗi của cậu trong tiền kiếp, và tạo nên một dấu ấn trên thận của cậu trong kiếp này để trả nghiệp mà cậu đã gây ra.

Sau khi Edgar Cayce tìm được căn nguyên, cậu bé đã có hy vọng được cứu chữa. Khi cậu bé ngủ vào ban đêm, cha mẹ cậu đã ngồi bên giường cậu và đọc cho cậu nghe: “Con là một người lương thiện và tốt bụng. Con muốn mọi người được hạnh phúc. Con sẽ giúp đỡ bất cứ ai mà con gặp…” Kết quả là đêm đầu tiên sau 9 năm, cậu bé đã ngưng đái dầm. Cha mẹ cậu tiếp tục điều này trong vòng vài tháng, và sau đó cậu đã hoàn toàn khỏi bệnh. Kể từ khi cậu bé trở thành một người hoàn toàn khác, ai cũng yêu mến cậu. Cậu rất sốt sắng vì công việc chung và khoan dung với người khác.

Những điều xấu gây ra trong quá khứ không hề mất đi sau khi chúng ta chết. Nghiêp lực đời trước sẽ gây ra đau khổ trong đời này. Người Trung Quốc có câu “thiện ác hữu báo” được truyền lại qua nhiều thế hệ, cũng chính là giải thích về quy luật nhân quả trong cuộc sống.

Hầu vương ra đời - Tây du ký diễn giải

Tây du ký là tác phẩm mà nhiều thế hệ ưu thích, ngoài yếu tố giải trí, nó còn cố tình hoặc vô tình có ẩn ý bên trong mà khi lý giải ra rất thú vị. Chiều không gian thứ 4 sẽ cùng các bạn có 1 loạt bài phân tích này nhé.

Sự tích hầu vương ra đời là sự việc mở đầu của câu truyện, Hầu vương sinh ra không phải từ vật hay người mà lại từ đá, bởi vì theo quy luật này thì nhân quả phải cùng loại (đá thì phải sinh ra đá, khỉ thì sinh ra khỉ). Nói khác đi, Mỹ Hầu Vương là biểu tượng của trí tuệ (chánh kiến và chánh tư duy) hay Thánh tuệ uẩn trong giáo lý Phật giáo, mà tiêu biểu là đôi mắt rực sáng làm kinh động đến Thiên đình của Mỹ Hầu Vương. Ðây là đôi mắt thấy rõ sự thật Vô ngã, Vô thường, Khổ và Không của hiện tượng giới. Sự thật đó làm kinh động, đảo lộn cái thấy thường hằng, hữu ngã của chúng sinh ở trên Trời và dưới Thế.



Trí tuệ Vô ngã đó sẵn có trong tâm của mỗi người, theo Ngô Thừa Ân, mhư một giang sơn đã soạn sẵn trong động Thủy Liêm dành cho Mỹ Hầu Vương. Sự thật Vô ngã, Vô thường, Khổ và Không cũng thế, là sự thật của sinh diệt, nằm ngay hiện tượng giới như động Thủy Liêm như là đang giới thiệu bốn pháp ấn của giáo lý Phật giáo.

Tại sao con người không thấy được sự thật về bốn pháp ấn ấy nơi thế giới chung quanh mình? Tại sao loài khỉ kia không khám phá ra động Thủy Liêm vẫn thường hiện diện tại đó, trước mắt chúng? - Hỏi tức là trả lời vậy. Chính thác nước đổ mạnh đã che khuất khỏi cái nhìn hời hợt của đàn khỉ, hệt như lòng tham ái, chấp thủ ngã đã che khuất tâm con người khỏi sự thật Vô ngã, Vô thường, Khổ và Không. Ở giáo lý Phật giáo, dòng thác đổ mạnh gọi là dòng bộc lưu, biểu tượng cho dòng nước Ái, dòng thủ, dòng sinh tử. Tại đây, Ngô Thừa Ân đang thật sự kiến trúc động Thủy Liêm theo giáo lý nhà Phật.

Chỉ có Mỹ Hầu Vương sinh ra từ đá, từ tú khí của trời đất, mà không sinh từ dục vọng (hay từ nghiệp), mới có trí tuệ Vô ngã phát hiện ra sự thật vô thường, khổ đau. Mỹ Hầu Vương đã dàn dụa nước mắt, sầu não thấy lửa vô thường đang bốc cháy chung quanh cuộc sống, lo lắng tìm lối thoát ra khỏi khổ đau.

Phần này trích từ nguồn mạng khá nhiều.